Tranh sơn mài Việt Nam là tranh vẽ bằng sơn ta, thứ nhựa lấy từ cây sơn mọc chủ yếu ở Phú Thọ, qua nhiều lớp sơn và nhiều lần mài với nước để lộ màu và lấy mặt phẳng. Chất liệu này có từ rất lâu trong đồ thờ, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng; nhưng việc biến nó thành một ngành hội họa bắt đầu ở Trường Mỹ thuật Đông Dương, trong khoảng cuối thập niên 1920 đến đầu thập niên 1930.
Các nguồn không ghi cùng một mốc cho bước ngoặt ấy, nên bài này đặt các mốc cạnh nhau thay vì chọn một năm “khai sinh”. Sau đó là phần nhận diện: sơn ta khác sơn công nghiệp ra sao, những họa sĩ đặt nền, và các tác phẩm sơn mài có tên trong danh sách bảo vật quốc gia do Chính phủ công bố.

Sơn ta là gì
Theo bài của Võ Xuân Huy trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần (2014), sơn ta được điều chế từ nhựa cây sơn (Rhus succedanea) mọc chủ yếu ở Phú Thọ, dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ, tượng thờ, hoành phi, câu đối và trang trí đình chùa, cung điện. Nhựa sơn sau khi chế biến có các loại như sơn sống, sơn chín (cánh gián, sơn then) phục vụ sáng tác.
Họa sĩ Lý Khắc Nhu, trong bài Tuổi Trẻ năm 2009, nói sơn ta pha được với nước hay dầu, càng dùng lâu càng lên “màu thời gian”. Ông cũng cho biết người lấy nhựa phải dậy từ 2 giờ sáng, và phải lấy từ 300 cây sơn mới được chừng 1 kg nhựa. Con số này là lời kể của một họa sĩ trong nghề, nên đọc như kinh nghiệm thực địa hơn là thống kê.
Vì sao gọi là “mài”
Tuổi Trẻ Cuối Tuần định nghĩa sơn mài là sự kết hợp giữa chất liệu sơn ta với phương pháp tạo hình châu Âu, trong đó có việc mài nhiều lần với nước để tạo các lớp màu và lấy mặt phẳng; nhựa sơn chín được pha thêm nhựa thông để đủ giòn mà mài. Người vẽ không chỉ đắp màu lên, mà còn mài đi để màu ở lớp dưới hiện ra.
Bài Tuổi Trẻ năm 2009 viết một bức sơn mài thường phải vẽ khoảng 20 lớp, mỗi lớp chờ ít nhất ba ngày cho khô, nên mất ít nhất 2–3 tháng. Một bài trên VOV năm 2026 tóm tinh thần này rằng cái đẹp nằm ở những lớp ẩn phía dưới, phải mài đi để lộ ra. Ngoài bột màu, họa sĩ còn dùng vàng, bạc, vỏ trứng, khảm trai; VnExpress ghi bức “Thiếu nữ bên đầm sen” của Nguyễn Gia Trí, theo tư liệu, là tranh sơn mài đầu tiên ở Việt Nam cẩn vỏ trứng lên mặt người.
Bước ngoặt ở Trường Mỹ thuật Đông Dương
Theo Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, ngày 27/10/1924 Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin ký nghị định thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương, Victor Tardieu trở thành hiệu trưởng đầu tiên theo hợp đồng ký ngày 24/11/1924, và trường bắt đầu giảng dạy năm 1925. Những gì xảy ra với sơn ta sau đó được các nguồn ghi theo những mốc khác nhau:
- 1928: Inguimberty tiến hành những nghiên cứu đầu tiên về sơn dầu và nghệ thuật sơn mài (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước).
- 1929: chuyên ngành sơn mài được thành lập theo đề xuất của Inguimberty (Thanh Niên, 2024).
- Khoảng 1930–1931: sinh viên của trường thể nghiệm sơn ta vào sáng tác tranh theo phương pháp tạo hình châu Âu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
- 1938: sơn mài trở thành ngành giảng dạy chính, theo sách Các họa sĩ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được VnExpress dẫn.
Người đứng sau đề xuất là Joseph Inguimberty (1896–1971). VnExpress, dẫn cùng cuốn sách, kể ông sửng sốt trước hoành phi, câu đối, đồ thờ sơn son thếp vàng ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám và đề xuất với hiệu trưởng Victor Tardieu đưa sơn ta vào chương trình học. Chi tiết thú vị mà Thanh Niên nêu: bản thân Inguimberty chưa bao giờ động vào chất liệu sơn mài. Còn việc thể nghiệm sơn ta vào tranh, theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, là do sinh viên của trường tiến hành.
Những họa sĩ đặt nền
VnExpress coi những năm 1930–1940 là thời kỳ hoàng kim của sơn mài Việt Nam, với các tên tuổi như Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khang, Hoàng Tích Chù. Trong đó, Nguyễn Gia Trí (1908–1993), tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1936, được VnExpress mô tả là một trong những họa sĩ đi đầu tạo dựng khuynh hướng mới của sơn mài, với đề tài quen thuộc là phụ nữ và phong cảnh.
Sau năm 1945, sơn mài tiếp tục được đặt nhiều kỳ vọng. Tuổi Trẻ Cuối Tuần dẫn bài thuyết trình của họa sĩ Tô Ngọc Vân tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 19/7/1948 ở Việt Bắc, trong đó ông gọi sơn mài là “một ngành hội họa mới do tay người Việt Nam dựng lên”. Những họa sĩ như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên về sau để lại các bức sơn mài nay là bảo vật quốc gia.
Tranh sơn mài là bảo vật quốc gia
Đối chiếu danh sách bảo vật quốc gia do Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ tổng hợp (tính đến đợt 14, Quyết định 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026) với chất liệu và tác giả do VnExpress ghi, các tác phẩm hội họa sơn mài có trong danh sách gồm:
| Tác phẩm | Họa sĩ | Niên đại theo danh sách | Nơi lưu giữ | Đợt công nhận |
|---|---|---|---|---|
| Vườn xuân Trung Nam Bắc | Nguyễn Gia Trí | Không ghi (VnExpress: 1969–1989) | Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM | Đợt 2, năm 2013 |
| Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ | Nguyễn Sáng | Không ghi (VnExpress: 1963) | Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam | Đợt 2, năm 2013 |
| Bình phong sơn mài “Thiếu nữ và phong cảnh” | Nguyễn Gia Trí | 1939 | Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam | Đợt 6, năm 2017 |
| Bác Hồ ở Chiến khu Việt Bắc | Dương Bích Liên | 1980 | Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam | Đợt 6, năm 2017 |
| Gióng | Nguyễn Tư Nghiêm | 1990 | Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam | Đợt 6, năm 2017 |
| Thanh niên thành đồng | Nguyễn Sáng | 1967–1978 | Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM | Đợt 6, năm 2017 |
Hai chi tiết cần lưu ý. Thứ nhất, danh sách chính thức ghi bình phong có niên đại 1939, trong khi VnExpress ghi 1944. Thứ hai, không phải bức tranh bảo vật nào cũng là sơn mài: “Em Thúy” của Trần Văn Cẩn và “Hai thiếu nữ và em bé” của Tô Ngọc Vân là sơn dầu.
VnExpress mô tả “Vườn xuân Trung Nam Bắc” vẽ thiếu nữ ba miền trong trang phục truyền thống trảy hội xuân, và năm 2019 tranh bị phát hiện hỏng hơn 30% sau một lần tu sửa bằng nước rửa chén, giấy nhám. Còn “Gióng” của Nguyễn Tư Nghiêm dựng hình người anh hùng bằng ngôn ngữ kỷ hà, đan họa tiết Đông Sơn trên trang phục và vũ khí; truyền thuyết phía sau được kể trong bài Thánh Gióng.
Sơn mài truyền thống và sơn công nghiệp
Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, hiện có nhiều thuật ngữ: “sơn ta”, “sơn truyền thống” để chỉ sơn mài làm từ sơn ta; còn “sơn mài mới”, “sơn mài Nhật”, “sơn mài hạt điều” chỉ tranh làm từ sơn công nghiệp, sơn hạt điều, mực in. Tác giả nhận định (năm 2014) phần lớn họa sĩ khi đó không dùng sơn ta mà dùng sơn điều, sơn công nghiệp quen gọi là “sơn Nhật”, với quy trình tạo hình giống sơn ta nhưng giản lược một số công đoạn.
| Sơn ta | Sơn công nghiệp (“sơn Nhật”, sơn điều) | |
|---|---|---|
| Nguồn | Nhựa cây sơn, chủ yếu ở Phú Thọ | Sơn công nghiệp, sơn hạt điều, mực in |
| Thời gian | Khoảng 20 lớp, mỗi lớp chờ ít nhất ba ngày | Nhanh, thuận lợi hơn |
| Theo thời gian | Càng lâu càng lên “màu thời gian” (Lý Khắc Nhu) | Theo bài Tuổi Trẻ (2009): nhanh phai màu, bong tróc |
| Mùi khi mới xong | Mùi chua nồng đặc trưng | Mùi dung môi |
Các hàng Thời gian, Theo thời gian và Mùi là kinh nghiệm được ghi trong một bài báo về triển lãm, không phải tiêu chuẩn giám định; riêng ý “màu thời gian” là lời họa sĩ Lý Khắc Nhu. Với tranh có giá trị, cách chắc chắn vẫn là hỏi nguồn gốc tác phẩm và người làm. Điều đáng chú ý hơn là cảnh báo của Tuổi Trẻ Cuối Tuần: rừng sơn bị thu hẹp và nhiều làng nghề đã chuyển sang sơn công nghiệp, khiến sơn mài “phổ cập về lượng nhưng nhạt nhòa về chất”.
Từ tư liệu đến graphic
Sơn mài để lại cho thiết kế đương đại một bảng màu rất riêng: nền then đen sâu, đỏ son, vàng và bạc thếp, những mảng vỏ trứng rạn li ti. Nó cũng dạy một cách nghĩ về bề mặt, nơi hình ảnh hiện ra qua nhiều lớp thay vì một lần in. Khi mượn tinh thần ấy vào đồ họa, người ta thường giữ bảng màu và nhịp phân lớp hơn là mô phỏng hiệu ứng bóng. Các thiết kế lấy cảm hứng từ chất liệu văn hóa Việt được lưu trong Teeworld Archive. Các bộ sưu tập áo hiện có của Teeworld được tập hợp ở trang bộ sưu tập.
Câu hỏi thường gặp
Tranh sơn mài là gì?
Là tranh vẽ bằng sơn ta kết hợp với phương pháp tạo hình châu Âu, qua nhiều lớp sơn và nhiều lần mài với nước để tạo lớp màu và lấy mặt phẳng.
Sơn ta là gì?
Sơn ta là sơn điều chế từ nhựa cây sơn (Rhus succedanea), mọc chủ yếu ở Phú Thọ. Trước khi thành chất liệu hội họa, sơn ta đã dùng cho tượng thờ, hoành phi, câu đối và trang trí đình chùa.
Tranh sơn mài Việt Nam có từ khi nào?
Chất liệu sơn ta có từ lâu, còn hội họa sơn mài hình thành ở Trường Mỹ thuật Đông Dương. Các nguồn ghi các mốc 1928 (Inguimberty nghiên cứu), 1929 (lập chuyên ngành), 1930–1931 (sinh viên thể nghiệm) và 1938 (thành ngành giảng dạy chính).
Tranh sơn mài Việt Nam nổi tiếng gồm những bức nào?
Các bức có trong danh sách bảo vật quốc gia gồm “Vườn xuân Trung Nam Bắc” và bình phong “Thiếu nữ và phong cảnh” của Nguyễn Gia Trí, “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” và “Thanh niên thành đồng” của Nguyễn Sáng, “Bác Hồ ở Chiến khu Việt Bắc” của Dương Bích Liên và “Gióng” của Nguyễn Tư Nghiêm.
Làm sao phân biệt sơn ta và sơn Nhật?
Theo bài Tuổi Trẻ năm 2009, tranh sơn ta mới làm có mùi chua nồng đặc trưng, còn tranh sơn Nhật có mùi dung môi; sơn Nhật dễ phai và bong. Họa sĩ Lý Khắc Nhu thì nói sơn ta càng dùng lâu càng lên “màu thời gian”. Đây là kinh nghiệm được ghi lại trong một bài báo, không thay cho giám định.
Nguồn tham khảo
- Nhạt nhòa sơn mài (Võ Xuân Huy) - Tuổi Trẻ Cuối Tuần
- 'Hành trình mới' của sơn ta - Báo Tuổi Trẻ
- Sơn ta trong mỹ thuật Việt: Những lớp sơn, những lớp mài và chiều sâu văn hóa - VOV
- Trường Mỹ thuật Đông Dương - khởi nguồn của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
- Trăm năm Trường Mỹ thuật Đông Dương: Dấu ấn Giáo sư Joseph Inguimberty - Báo Thanh Niên
- Tranh sơn mài phong cảnh Việt thời Đông Dương - Báo VnExpress
- Bảy bức tranh là 'Bảo vật quốc gia' - Báo VnExpress
- Phụ nữ và phong cảnh trong tranh Nguyễn Gia Trí - Báo VnExpress
- Danh sách 357 bảo vật quốc gia - Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật (Chính phủ)
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







