Thành hoàng làng là vị thần bảo hộ của một làng, thường được thờ ở đình. Theo PGS.TS Đinh Khắc Thuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, “Thành hoàng” vốn là tên gọi từ Trung Quốc chỉ thần bảo hộ thành trì, vì “thành” là thành lũy và “hoàng” là hào sâu bao quanh; còn ở Việt Nam, Thành hoàng là Thành hoàng làng, thần bảo hộ của làng xóm, thường gắn với ngôi đình.
Người được thờ làm Thành hoàng có thể là thần núi, thần sông, một anh hùng chống giặc, người lập làng, ông tổ một nghề, và có làng thờ vị thần không rõ tên tuổi. Bài này giải thích Thành hoàng là ai, các loại Thành hoàng theo nguồn nghiên cứu, vai trò của sắc phong và thần tích, đình làng như nơi thờ, và câu hỏi nên viết “thành hoàng” hay “thần hoàng”.

Thành hoàng làng là ai?
Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, trong chuyên khảo Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng ở Hội An của Nguyễn Văn Thịnh (2023), định nghĩa Thành hoàng là danh từ chung chỉ vị thần được dân suy tôn, thờ tự ở các làng xã của người Việt và được vua ban sắc phong, đại diện cho vua đứng đầu các chư thần và dân chúng trong làng. Dù có hay không có tên họ, lai lịch rõ ràng, Thành hoàng vẫn là chủ tể cai quản một làng xã cụ thể.
Nói cách khác, “Thành hoàng” là một vị trí, không phải tên một vị thần. Mỗi làng điền vào vị trí ấy một nhân vật khác nhau. Câu tục ngữ mà PGS.TS Trần Đăng Sinh và ThS Nguyễn Phương Hà dẫn trong bài tham luận hội thảo Giá trị trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ nói gọn điều đó: “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”.
Thành hoàng làng thờ ai: các loại Thành hoàng
Đinh Khắc Thuân cho biết kho thần tích do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp sưu tập, nay lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chia thần được thờ thành hai loại lớn là nhiên thần và nhân thần. Ông nhấn mạnh sự phân chia này chỉ tương đối, vì nhiều nhiên thần đã được nhân hóa, còn nhiều nhân vật lịch sử lại được huyền thoại hóa. Cùng một vị thần cũng có nhiều dị bản: ông lấy ví dụ thần Cao Sơn được thờ ở hơn 100 nơi với các tên hiệu khác nhau, mỗi nơi lại có thêm tình tiết riêng gắn với địa phương.
| Loại | Là ai | Ví dụ theo nguồn |
|---|---|---|
| Nhiên thần | Thần gắn với tự nhiên: thần Đá, thần Nước, thần Mưa, thần Sấm, thần Cây, thần Gò | Vùng Ba Vì và lân cận thờ thần Tản Viên; vùng chi nhánh sông Hồng từ Vĩnh Phúc đến Bắc Ninh thờ thần Tam Giang (Đinh Khắc Thuân; địa danh theo bài năm 2014, trước sắp xếp hành chính năm 2025) |
| Nhân thần gốc thiên thần | Nhân thần nhưng có nguồn gốc từ thiên thần | Phần lớn là các vị thần thời Hùng Vương (Đinh Khắc Thuân) |
| Nhân thần lịch sử | Người có công đánh giặc, lập làng, dạy nghề, có khi đan xen yếu tố kỳ ảo | Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt được nhiều làng thờ; làng gốm Bát Tràng tôn tổ nghề Hứa Vĩnh Kiều làm Thành hoàng (Trần Đăng Sinh, Nguyễn Phương Hà) |
| Thần không rõ lai lịch | Vị thần chỉ có danh xưng chung, không có thần tích | “Bổn cảnh Thành Hoàng”, “Bản xứ Thành Hoàng” thường gặp ở Trung Bộ và Nam Bộ (Trung tâm Di sản Hội An) |
Nhiều Thành hoàng là nhân vật đã có bài riêng trong thư viện này, như Hai Bà Trưng, Bà Triệu hay Trần Hưng Đạo. Theo bài của Trần Đăng Sinh và Nguyễn Phương Hà, vua Hùng được coi là Thành hoàng chung của cả nước; về lớp truyền thuyết và sử liệu quanh các vua Hùng, xem bài Hùng Vương và nước Văn Lang.
Thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng: cách triều đình xếp hạng thần
Theo Đinh Khắc Thuân, năm 1464, thời Lê sơ, triều đình định lệ tế lễ bách thần và chia thần làm ba hạng: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Tiêu chí dưới đây thì đến từ một nguồn muộn hơn nhiều: sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, biên soạn vào những năm đầu thế kỷ XX và được Trung tâm Di sản Hội An trích dẫn, mô tả ba hạng Phúc thần theo lệ thời ông như sau:
- Thượng đẳng thần: thần núi lớn, sông lớn và các bậc thiên thần có sự tích linh dị như Đổng Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh; cùng các nhân thần có công lớn như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.
- Trung đẳng thần: thần làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc có chút linh dị được triều đình ghi vào tự điển.
- Hạ đẳng thần: thần dân xã thờ mà không rõ sự tích, nhưng vẫn thuộc bậc chính thần, triều đình theo lòng dân mà phong.
Đây là mô tả của Phan Kế Bính, không phải nội dung của lệ năm 1464, nên các ví dụ trên không nên đọc như danh sách thần của triều Lê sơ. Đổng Thiên Vương ở đây là Phù Đổng Thiên Vương, tức Thánh Gióng. Bài tham luận của Trần Đăng Sinh và Nguyễn Phương Hà còn liệt kê, bên cạnh ba hạng này, cách phân biệt chính thần và tà thần.
Sắc phong và thần tích: giấy tờ của một vị thần
Nhiều vị Thành hoàng, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, gắn với hai loại văn bản. Thần tích ghi sự tích của thần; sắc phong là văn bản của triều đình công nhận và ban mỹ tự cho thần. Đinh Khắc Thuân cho biết sự tích thần được văn bản hóa lần đầu tiên hiện biết trong Việt điện u linh (1329) và Lĩnh Nam chích quái; đại đa số thần tích đề tên Nguyễn Bính soạn năm 1572 và Nguyễn Hiền sao năm 1736.
Ông cũng chỉ ra một điểm nên biết: chưa có cơ sở xác nhận Nguyễn Bính soạn hàng loạt thần tích vào niên hiệu Hồng Phúc, vì niên hiệu này chỉ kéo dài hai năm (1572–1573). Điều chắc chắn là hàng loạt thần tích được Nguyễn Hiền sao chép từ đầu thế kỷ XVIII, nên đa phần thần tích ở đồng bằng Bắc Bộ có chung một khuôn mẫu. Kho thần tích do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp sưu tập và sao chép, nay ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có 568 sách, ghi sự tích thần ở 95 huyện, phủ, châu thuộc 22 tỉnh phía Bắc từ Nghệ An trở ra; đợt điều tra 1937–1939 của Viện này còn để lại các bản kê khai về thờ Thành hoàng ở làng xã.
Về sắc phong, Đinh Khắc Thuân cho biết phần lớn sắc phong hiện còn ở đình thuộc thời Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn; chỉ một số sắc có niên đại thế kỷ XV–XVI. Ở Hội An, theo Trung tâm Di sản Hội An, 10 trong 11 làng xã có thờ Thành hoàng được ban sắc; sắc sớm nhất năm Minh Mạng thứ 7 (1826), muộn nhất năm Khải Định thứ 9 (1924).
Từ miếu Thành hoàng đến đình làng
Thành hoàng không phải lúc nào cũng ngự ở đình. Đinh Khắc Thuân cho biết thời điểm tục thờ Thành hoàng du nhập và trở thành hình thức thờ cúng ở Việt Nam còn những kiến giải khác nhau, với hai mốc giả định: cuối thế kỷ XIII hoặc đầu thế kỷ XIV, khi Nho giáo bắt đầu thịnh hành, và thế kỷ XV, khi Nho giáo phát triển mạnh trong cả nước. Cũng theo ông, sớm hơn hai mốc ấy, năm 823, thời Bắc thuộc, thần Tô Lịch trở thành vị thần bảo hộ La Thành đầu tiên. Những miếu Thành hoàng kiểu này gần với mô hình Thành hoàng đô thị của Trung Quốc; ở thôn quê, dân dựng miếu thờ thần từ rất sớm, còn việc thờ Thành hoàng làng ở đình thì muộn hơn nhiều.
Mốc chuyển là thế kỷ XV–XVI: với sự xuất hiện của ngôi đình, việc thờ thần chuyển dần từ miếu sang đình. Đình thời Mạc còn chưa có hậu cung, nơi về sau đảm nhận chức năng thờ Thành hoàng. Kết luận của Đinh Khắc Thuân: thờ Thành hoàng gắn với ngôi đình và trở thành đặc trưng văn hóa làng phổ biến từ thế kỷ XV, nhất là các thế kỷ XVII và XVIII. Ở cấp kinh đô, năm 1809 vua Gia Long dựng miếu Đô Thành hoàng; theo Trung tâm Di sản Hội An, từ năm 1841 thời Thiệu Trị, các tỉnh thành đều có miếu thờ Thành hoàng.
Đình làng: nhà thờ thần và nhà chung của làng
Theo Trần Đăng Sinh và Nguyễn Phương Hà, đình là nơi thờ Thành hoàng, đồng thời là không gian văn hóa, tín ngưỡng và đơn vị hành chính của làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Hai tác giả cho rằng ngôi đình ban đầu có chức năng trụ sở hành chính của làng xã, rồi dần trở thành nơi thờ Thành hoàng và nơi hội họp của chức dịch, dân làng. Về mặt pháp lý hôm nay, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 xếp đình, đền, miếu vào nhóm cơ sở tín ngưỡng, nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng.
Những dịp làng tổ chức lễ tế lớn, theo hai tác giả, là ngày thần húy và thần đản (ngày mất và ngày sinh của Thành hoàng), hay ngày nhập tịch của làng. Lễ hội làng gồm tế thần, rước Thành hoàng đi quanh làng và phần hội với trò diễn thường tái hiện sự tích hay chiến tích của thần. Vì vậy hội làng có thể được đọc như một bản thần tích được diễn lại mỗi năm. Linh vật canh giữ đình, chùa được bàn riêng trong bài con nghê là con gì.
Thành hoàng hay thần hoàng?
Về từ nguyên, “Thành hoàng” là cách gọi gốc Hán Việt. Chuyên khảo của Trung tâm Di sản Hội An, dẫn lại Ngọc Lâm, giải thích: Thành hoàng tức thành hào; hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng; đắp đất làm thành, đào hào làm hoàng. Đinh Khắc Thuân cũng giải nghĩa “thành” là thành lũy và “hoàng” là hào sâu bao bọc thành lũy. Như vậy chữ “thành” ở đây không phải chữ “thần”.
Dạng “thần hoàng” thì có trong sách vở. Đoạn trích Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính mà Trung tâm Di sản Hội An dẫn viết “tục thờ Thần Hoàng (tức thần Thành Hoàng)” và “cảnh thổ nào phải có Thần Hoàng ấy”; Đinh Khắc Thuân cũng trích câu sau. Tức là trong sách này, “Thần Hoàng” được dùng để chỉ chính thần Thành hoàng. Viết “Thành hoàng” thì khớp với nghĩa gốc thành và hào mà hai nguồn trên giải thích.
Một khác biệt thú vị giữa hai nước, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh được Trung tâm Di sản Hội An dẫn: Thành hoàng Trung Hoa là thần bảo hộ một ngôi thành, còn Thành hoàng Việt Nam là thần làng do dân suy tôn, về sau triều đình mới phong làm Thành hoàng để đại diện cho vua cai quản các thần và dân trong làng.
Từ tư liệu đến graphic
Tín ngưỡng Thành hoàng để lại một kho hình ảnh ít được khai thác: đạo sắc phong với chữ Hán và ấn son, bộ mái đình cong, kiệu rước, và cả chính ý tưởng “mỗi làng một vị thần”. Một hệ đồ họa có thể đi từ chữ “làng” và danh sách các vị Thành hoàng khác nhau, như một bản đồ về những người được mỗi cộng đồng chọn để nhớ. Những câu chuyện văn hóa Việt khác mà Teeworld đã đọc lại nằm trong kho lưu trữ Teeworld. Các bộ sưu tập áo hiện có của Teeworld được tập hợp ở trang bộ sưu tập.
Câu hỏi thường gặp
Thành hoàng làng là ai?
Là vị thần bảo hộ của một làng, được dân suy tôn và thường được triều đình ban sắc phong, thờ ở đình. Mỗi làng có Thành hoàng riêng: có thể là nhiên thần, nhân vật lịch sử, người lập làng, tổ nghề hoặc vị thần không rõ tên.
Thành hoàng làng thờ ai?
Tùy làng. Theo tư liệu Hán Nôm, thần được thờ chia thành nhiên thần và nhân thần; ví dụ làng Bát Tràng thờ tổ nghề gốm Hứa Vĩnh Kiều, nhiều làng thờ Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt.
Viết thành hoàng hay thần hoàng mới đúng?
“Thành hoàng” là từ gốc, nghĩa đen là thành và hào quanh thành. Dạng “Thần Hoàng” xuất hiện trong sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, kèm chú thích “tức thần Thành Hoàng”, tức là chỉ cùng một vị thần.
Đình làng là gì?
Là nơi thờ Thành hoàng và là nhà chung của làng, nơi hội họp và tổ chức lễ hội. Việc thờ Thành hoàng ở đình phổ biến từ thế kỷ XV, nhất là các thế kỷ XVII–XVIII.
Thượng đẳng thần là gì?
Ba hạng thần đã có từ lệ năm 1464 thời Lê sơ, theo Đinh Khắc Thuân. Theo mô tả của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (đầu thế kỷ XX), Thượng đẳng thần là hạng đầu trong ba hạng Phúc thần, gồm thần núi lớn, sông lớn, các thiên thần có sự tích linh dị và các nhân thần có công trạng hiển hách, họ tên rõ ràng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.
Nguồn tham khảo
- Thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm (PGS.TS Đinh Khắc Thuân) - Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2014
- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng ở Hội An (Nguyễn Văn Thịnh, 30/08/2023) - Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (hoianheritage.net)
- Giá trị trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (PGS.TS Trần Đăng Sinh, ThS Nguyễn Phương Hà; tham luận hội thảo “Vai trò của tín ngưỡng Việt Nam trong đời sống xã hội đương đại”) - frs.ussh.vnu.edu.vn, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
- Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 (bản PDF đăng trên Sở Nội vụ Lạng Sơn)
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







