Sự tích Hồ Tây không phải một câu chuyện mà là nhiều câu chuyện chồng lên nhau. Truyện gắn với cái tên được cho là cổ nhất của hồ, đầm Xác Cáo, kể Lạc Long Quân dâng nước phá hang cáo chín đuôi, hang sập thành đầm. Truyện thứ hai kể con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông, chạy sang tìm mẹ, quần thảo làm đất sụt thành hồ Kim Ngưu. Mỗi truyện gắn với một tên gọi của hồ.
Còn về tự nhiên, các nguồn đều nhắc cùng một giả thuyết: Hồ Tây là phần còn lại của một khúc sông Hồng cổ sau khi dòng sông đổi hướng. Hồ có từ bao giờ thì các nguồn nói rõ là chưa trả lời được. Bài này đặt các truyền thuyết cạnh nhau, ghi chúng được chép ở đâu, rồi tách riêng phần địa lý.

Ba câu chuyện gắn với tên hồ
| Truyền thuyết | Tên hồ gắn với | Nơi ghi chép hoặc lưu truyền |
|---|---|---|
| Lạc Long Quân diệt cáo chín đuôi | Đầm (hồ) Xác Cáo | Lĩnh Nam chích quái, theo Hànộimới |
| Trâu vàng tìm mẹ theo tiếng chuông | Kim Ngưu (Trâu Vàng) | Truyện dân gian; bảng và bia tại đền Kim Ngưu, theo Tiền Phong và Báo Pháp luật Việt Nam |
| Vụ án “Thái sư hóa hổ” thời Lý Nhân Tông | Dâm Đàm (nơi xảy ra chuyện, không phải gốc của tên hồ) | Đại Việt sử ký toàn thư chép, theo Nguyễn Hùng Vĩ; chuyện mang màu huyền thoại |
Ngoài ba tên trên, Hànộimới còn ghi tên Lãng Bạc, nghĩa là hồ đầy sóng vỗ, và theo Tây Hồ chí được bài báo dẫn, tên này do tướng nhà Hán Mã Viện gọi. Đó là một cách ghi chép; cổng thông tin của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài giải thích tên Lãng Bạc bằng hình ảnh sóng vỗ mà không nhắc Mã Viện. Các tên gọi phản ánh những lớp thời gian khác nhau, không thay thế nhau một cách gọn gàng.
Lạc Long Quân diệt Hồ tinh: đầm Xác Cáo
Bài “Một vùng huyền tích” trên Hànộimới viết: theo Lĩnh Nam chích quái, hồ nước lớn nhất nội thành Hà Nội là nơi Lạc Long Quân diệt trừ hồ ly, cứu nguy dân chúng, nên có tên là hồ Xác Cáo. Bản tóm tắt trên cổng thông tin của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài kể gọn hơn: có con cáo chín đuôi ẩn nấp làm hại dân, Long Quân dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành hồ gọi là hồ (đầm) Xác Cáo.
Theo bài “Lịch sử hồ Tây” của Nguyễn Ngọc Tiến trên Hànộimới, tên đầm Xác Cáo được cho là tên cổ nhất của hồ, và làng Cáo Đỉnh được cho là dấu tích của truyền thuyết. Bài viết năm 2020 ghi làng này thuộc phường Xuân Đỉnh, tên phường tại thời điểm đó.
Lĩnh Nam chích quái là một tập truyện, không phải sách sử. Theo Nguyễn Hùng Vĩ trên Hànộimới, tác phẩm khởi thảo từ thời Trần, được biên soạn lại thời Lê và tu bổ san định đến thời Nguyễn. Vì thế, đầm Xác Cáo nên được hiểu là một cách người xưa giải thích hồ bằng thần thoại, không phải ghi chép về một sự kiện.
Lạc Long Quân trong truyện này là nhân vật quen thuộc của truyền thuyết con Rồng cháu Tiên. Câu chuyện đầy đủ về ông và Âu Cơ được kể trong bài Lạc Long Quân – Âu Cơ: truyền thuyết con Rồng cháu Tiên.
Trâu vàng và tiếng chuông: hồ Kim Ngưu
Truyện trâu vàng có nhiều bản, và các bản khác nhau ở người đúc chuông lẫn người ném chuông. Theo Tiền Phong, tấm bảng ngay cửa đền Kim Ngưu, cạnh Phủ Tây Hồ, kể rằng khoảng năm 1030 thời Lý, có vị thiền sư họ Phương, pháp danh Không Lộ, sang sứ nhà Tống chữa bệnh cho hoàng tộc và xin một ít đồng đen về đúc chuông. Chuông đúc xong, tiếng vang sang tận Bắc quốc. Trâu vàng của vua Tống ngỡ tiếng mẹ gọi, chạy sang nước Nam; đến khu rừng lim ngoài Thăng Long thì không còn nghe tiếng chuông, mất phương hướng, quần thảo làm rừng sụt thành hố nước mênh mông.
Theo bảng đền, nhân sự kiện đó chính thiền sư thả luôn quả chuông đồng đen xuống hồ. Thần Trâu Vàng về sau được các triều vua phong sắc là Trấn quốc phù lộ diên tường Đế quân, cũng theo bảng đền do Tiền Phong chép lại. Khi được phóng viên hỏi, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền kể lại truyền thuyết theo trí nhớ với vài chi tiết khác: trong lời kể của ông, nhà vua e ngại có chuyện không hay nên sai ném quả chuông xuống hồ, và trâu vàng nhảy theo xuống đó.
Báo Pháp luật Việt Nam ghi thêm hai lớp nữa. Bản kể phổ biến về sự tích Hồ Tây mà bài báo chép gọi người đúc chuông là ông Khổng Lồ thời Lý, và chính ông Khổng Lồ ném chiếc chuông xuống hồ, trâu vàng nhảy theo. Cùng bài chép lại tấm bia trong khuôn viên đền Kim Ngưu, nội dung gần giống bản Tiền Phong nhưng ghi thiền sư họ Dương chứ không phải họ Phương; ở bản bia này, thiền sư cũng tự thả chuông xuống hồ. Bài báo còn đồng nhất ông Khổng Lồ với quốc sư Nguyễn Minh Không, tên hiệu Không Lộ thiền sư, tức coi ba tên gọi là một người.
Tóm lại, các bản khác nhau ở ba chỗ: tên người đúc chuông (ông Khổng Lồ trong bản phổ biến, thiền sư Không Lộ trên bảng và bia đền), họ của thiền sư (họ Phương theo Tiền Phong, họ Dương theo Báo Pháp luật Việt Nam), và người ném chuông (ông Khổng Lồ, thiền sư, hay nhà vua trong lời kể của Trần Lâm Biền).
Cũng trên Tiền Phong, ông Trần Lâm Biền giải thích rằng con trâu xưa được ví là đầu cơ nghiệp, trâu vàng là chúa của loài trâu, nên việc thờ trâu vàng mang ý cầu mong hạnh phúc. Ông cũng nhận định mọi truyền thuyết đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống và từ những nhu cầu tâm linh.
Dâm Đàm, Lãng Bạc và cái tên Hồ Tây
Tên Dâm Đàm nghĩa là hồ mù sương. Cổng thông tin của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ghi rằng theo thư tịch cổ, vào thế kỷ XI hồ được gọi là Dâm Đàm. Về gốc tên, bài “Lịch sử hồ Tây” trên Hànộimới dẫn sách Hồn sử Việt: vua Lý Công Uẩn thường du thuyền trên hồ Kim Ngưu, nhiều lần gặp sương mù bao phủ, nên hồ được đổi tên là Dâm Đàm. Còn tên Tây Hồ, theo Hànộimới, xuất hiện vì kiêng húy: năm 1573 vua Lê Thế Tông lên ngôi, tên húy là Duy Đàm, nên cấm gọi Dâm Đàm và đổi gọi là Tây Hồ. Cũng bài này ghi năm 1657, dưới thời chúa Trịnh Tạc, hồ còn được gọi là Đoài Hồ.
Vụ “Thái sư hóa hổ” thời Lý, được bài “Một vùng huyền tích” trên Hànộimới nhắc như một vụ án thần bí gắn với tên Dâm Đàm, là chuyện khác với gốc tên hồ. Theo Nguyễn Hùng Vĩ trên Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại Việt sử ký toàn thư chép chuyện Thái sư Lê Văn Thịnh hóa hổ trên hồ Dâm Đàm và bị đày đi Thao Giang; ông viết rằng ghi chép này nằm dưới lớp sương mù huyền thoại, đến nay chưa minh định được sử thực.
Cần lưu ý một chỗ lệch nhỏ: cổng thông tin trên viết rằng hồ được gọi là Hồ Tây từ thế kỷ 15, thời Lê, trong khi Hànộimới gắn tên Tây Hồ với năm 1573, tức thế kỷ 16. Bài này ghi cả hai và không chọn một mốc duy nhất.
Hồ Tây hình thành thế nào: phần địa lý
Tách khỏi truyền thuyết, lời giải thích được nhắc nhiều nhất là hồ Tây từng là một khúc uốn của sông Hồng. Trên Thanh Niên, trong khảo cứu “Chuyện quanh quanh Dâm Đàm” (cùng tác giả và gần như cùng nội dung với bài “Lịch sử hồ Tây” trên Hànộimới, nên không phải hai nguồn độc lập), nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến viết rằng về địa lý, hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo, tạo thành chủ yếu do tác dụng xâm thực của sông Hồng; hồ xưa là khúc uốn của sông Hồng khi sông đổi dòng chảy. Trước đó, ông cân nhắc rồi gạt giả thuyết đê vỡ tạo thành hồ, vì lịch sử đê chỉ bắt đầu từ thế kỷ VI và đê xưa chỉ là bờ bao thấp. Ông cũng viết thêm: nếu chấp nhận giả thuyết khúc uốn thì hồ Tây có từ bao giờ vẫn là câu hỏi không dễ trả lời.
Cách mô tả tương tự có trên cổng thông tin của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, gọi hồ là một đoạn sông Hồng cổ còn rớt lại sau khi đã đổi dòng. Trên Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, TS.KTS Trần Thanh Bình viết rằng ngành địa chất lịch sử đã chứng minh hồ Tây là một phần của sông Hồng. Ở phạm vi rộng hơn, một bài về địa chất Hà Nội trên Báo Chính phủ mô tả giai đoạn Holocen muộn, khi sông chỉ uốn khúc, dịch chuyển dòng chảy, hoặc để lại các đoạn sông chết dần dần biến thành hồ.
Cần nói rõ loại nguồn: các bài trên là khảo cứu phổ thông và bài tạp chí chuyên ngành kiến trúc, không phải công bố địa chất có số liệu định tuổi trầm tích riêng cho hồ Tây. Vì vậy, bài này chỉ khẳng định ở mức: giả thuyết khúc sông Hồng cổ là cách giải thích được các nguồn đồng thuận, còn niên đại hình thành hồ chưa có con số được nêu trong các nguồn đã mở.
Nguyễn Ngọc Tiến cũng ghi một chi tiết về nước: từ nửa đầu thế kỷ 18 trở về trước, nguồn cung cấp nước gián tiếp cho hồ là sông Hồng qua sông Thiên Phù ở phía tây và sông Tô Lịch ở phía đông.
Đặt truyền thuyết cạnh địa lý
Đặt hai lớp cạnh nhau sẽ thấy một điểm thú vị. Cả truyện Hồ tinh lẫn truyện trâu vàng đều giải thích hồ bằng một biến cố đột ngột: hang sập, đất lún, nước tràn. Còn giả thuyết địa lý lại mô tả một quá trình chậm: dòng sông dịch chuyển và bỏ lại một khúc cũ. Truyền thuyết không mô tả địa chất, nhưng nó giữ lại cảm giác của người xưa về một vùng đất trũng, nhiều nước, dễ biến đổi.
Một hồ nước khác của Hà Nội cũng có truyền thuyết riêng chồng lên lịch sử, được kể trong bài Sự tích Hồ Gươm: Lê Lợi trả gươm, rùa vàng và lớp lịch sử phía sau.
Diện tích hồ cũng thay đổi theo thời gian. Theo Hànộimới, sau khi kè hồ hoàn thành năm 2010, diện tích hồ Tây chỉ còn 460 ha.
Từ tư liệu đến graphic
Hồ Tây cho thiết kế đương đại hai kho hình rất khác nhau: con cáo chín đuôi và cuộc giao tranh với Long Quân ở một phía, con trâu vàng, quả chuông đồng đen và mặt nước mù sương ở phía kia. Điều đáng giữ khi mượn chất liệu là tinh thần của từng truyện: một truyện về trừ hại cho dân, một truyện về tiếng gọi và nỗi nhớ mẹ.
Trong collection Thần Thoại Việt Nam, Hồ Tinh Tee là áo thun graphic form oversized cotton 220gsm, diễn giải truyền thuyết hồ linh trong bảng màu trầm, còn Lạc Long Quân Tee là áo oversized 220gsm với artwork mặt trước và lưng trơn. Các câu chuyện khác nằm trong kho lưu trữ Teeworld.
Câu hỏi thường gặp
Sự tích Hồ Tây kể về điều gì?
Có hai truyện chính. Truyện Lạc Long Quân dâng nước phá hang cáo chín đuôi, hang sập thành đầm Xác Cáo. Truyện trâu vàng nghe tiếng chuông chạy sang tìm mẹ, quần thảo làm đất sụt thành hồ Kim Ngưu.
Đầm Xác Cáo là gì?
Là tên cổ của hồ Tây theo truyền thuyết Lạc Long Quân diệt hồ ly, được ghi trong Lĩnh Nam chích quái. Hànộimới gọi đây là tên được cho là cổ nhất của hồ.
Trâu vàng Hồ Tây là gì?
Là nhân vật của truyện dân gian giải thích tên Kim Ngưu. Người đúc chuông được kể khác nhau: bản phổ biến gọi là ông Khổng Lồ; bảng và bia tại đền Kim Ngưu gọi là thiền sư Không Lộ (Tiền Phong chép họ Phương, Báo Pháp luật Việt Nam chép họ Dương). Báo Pháp luật Việt Nam còn đồng nhất ông Khổng Lồ với quốc sư Nguyễn Minh Không, tên hiệu Không Lộ thiền sư.
Hồ Tây là hồ tự nhiên hay nhân tạo?
Hồ tự nhiên. Các nguồn trong bài mô tả hồ Tây là phần còn lại của một khúc sông Hồng cổ sau khi sông đổi dòng; thời điểm hình thành vẫn chưa được xác định.
Vì sao gọi là Hồ Tây?
Vì hồ nằm ở phía tây kinh thành Thăng Long. Theo Hànộimới, năm 1573 tên Dâm Đàm bị kiêng vì trùng húy vua Lê Thế Tông (Duy Đàm), nên đổi gọi là Tây Hồ.
Nguồn tham khảo
- Lịch sử hồ Tây (Nguyễn Ngọc Tiến) - Nhịp sống Hà Nội, Báo Hànộimới
- Một vùng huyền tích - Nhịp sống Hà Nội, Báo Hànộimới
- Mênh mang những huyền thoại Tây Hồ - Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
- Chuyện quanh quanh Dâm Đàm: Hồ Tây có tự bao giờ (Nguyễn Ngọc Tiến) - Thanh Niên
- Giải mã truyền thuyết Trâu vàng dưới đáy hồ Tây - Tiền Phong
- Chuyện ít biết về Trâu vàng linh thiêng - Báo Pháp luật Việt Nam
- Tại sao lại gọi hổ là ông Ba mươi (Nguyễn Hùng Vĩ) - Báo Hànộimới
- Hồ Tây – Di sản văn hoá thiên nhiên trong lòng người Hà Nội (Trần Thanh Bình) - Tạp chí Kiến trúc Việt Nam
- Giai đoạn Nhân sinh: Xuất hiện những hồ đầm Hà Nội - Báo Điện tử Chính phủ
- Biểu tượng hổ trong tâm thức văn hóa Việt Nam (Nguyễn Hùng Vĩ) - Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







