Phượng hoàng thời Lý là một trong những hình phượng đẹp và có cá tính nhất của mỹ thuật Việt: chim thường đứng trên đài sen, đuôi nhiều tua kết thành chùm, và có con đứng múa với chân dài như chân hạc như trên thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng. Những hình ấy hiện còn trên thành bậc, bia đá các chùa thời Lý và trên vật liệu kiến trúc đất nung đào được ở Hoàng thành Thăng Long, trong đó có hiện vật đã được công nhận bảo vật quốc gia.
Một dấu hiệu hay được nhắc ở phượng Lý là đuôi kết chùm, chưa tách thành các dải răng cưa như phượng về sau; dấu hiệu này không riêng thời Lý, vì phượng Trần sớm vẫn còn đuôi chùm. Dáng đứng trên đài sen cũng hay gặp, còn chân thì không đồng nhất: phượng thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng chân dài như chân hạc, nhưng bốn phượng trên bia chùa Diên Phúc (1157) thân mập, chân hơi ngắn. Bài này đi qua tranh luận về nguồn gốc phượng, các hiện vật phượng Lý ở Hoàng thành Thăng Long, một danh sách nhận diện nhanh, rồi xem phượng Việt khác phượng Trung Hoa đến đâu trong phạm vi nguồn cho phép.

Phượng hoàng là gì và vì sao nguồn gốc còn tranh luận
Phượng là một trong bốn linh vật của bộ tứ linh long, lân, quy, phụng. Phần tổng quan về cả bốn con, gồm những lớp nghĩa quen thuộc của phượng như chúa tể 360 loài chim, 5 màu sắc tượng trưng năm đức tính và điềm báo thời thái bình, đã có trong bài Tứ linh là những con gì. Ở đây ta tập trung vào hai điều bài đó chưa đi sâu: nguồn gốc của phượng và cách nhận ra phượng thời Lý.
Về nguồn gốc, bài tổng hợp trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nói rõ nguồn gốc ra đời của phượng hoàng phương Đông đến nay còn nhiều vấn đề đang được bàn luận, tranh cãi. Một mặt, phượng hoàng xuất hiện từ rất sớm trong văn hóa Trung Hoa, trên đồ gốm từ hơn 7.000 năm trước. Mặt khác, cũng bài này ghi một số nhà nghiên cứu cho rằng phượng hoàng có nguồn gốc từ phương Nam, cụ thể là đất Việt. Nguồn không nêu tên những nhà nghiên cứu ấy và không kết luận bên nào đúng. Cách an toàn nhất là coi phượng là hình tượng chung của Đông Á mà mỗi nơi tạo hình theo cách riêng, và để hiện vật cụ thể nói phần còn lại.
Phượng và rồng: một cặp âm dương
Trong cặp rồng phượng, phượng biểu thị yếu tố âm và hoàng hậu, còn cụm "long phụng trình tường" chỉ hạnh phúc lứa đôi, sự may mắn và thịnh vượng, theo bài của TS Trần Đức Anh Sơn trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; các lớp nghĩa khác của phượng đã có trong bài Tứ linh là những con gì. Đó là lớp nghĩa cung đình; ở phượng thời Lý, như sẽ thấy dưới đây, lớp nghĩa Phật giáo mạnh không kém.
Phượng thời Lý qua từng hiện vật
Thời Lý là giai đoạn Phật giáo thịnh, và phượng Lý mang rõ dấu ấn ấy: nó thường đứng trên đài sen hoặc hoa sen, và trên lá đề chim phượng ở Hoàng thành, đôi phượng dâng ngọc báu ở trung tâm. Lửa cũng có mặt, nhưng ở diềm (như lá đề này) hoặc phía dưới: bài tổng hợp của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tả một hình phượng đất nung sưu tầm được ở vùng Thăng Long xưa, chưa rõ thuộc di tích nào, được bố cục theo lối nhìn nghiêng, toàn bộ thành hình lá đề, phía dưới là hình mây xoắn thành hai đao lửa đỡ hai bên. Những hiện vật dưới đây là nơi có thể nhìn thấy phượng Lý rõ nhất.
Thành bậc và bia đá chùa Lý
Theo bài tổng hợp của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, phượng trên thành bậc chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội) và chùa Lạng đứng trên đài sen, chân dài như chân hạc, một chân thẳng, chân kia co lên theo nhịp múa, đuôi lượn sóng. Phượng trên trán bia chùa Diên Phúc (Hưng Yên, năm 1157) lại khác: bốn con cùng một kiểu, thân mập, chân hơi ngắn, cũng đứng trên đài sen, cổ rụt, mắt nhỏ, mỏ dài và quặp kiểu mỏ vẹt, đầu ngẩng nhìn vào giữa bia. Chỉ riêng hai nhóm hiện vật này đã cho thấy phượng Lý không có một khuôn chân duy nhất.
Lá đề chim phượng ở Hoàng thành Thăng Long
Hiện vật nổi tiếng nhất là lá đề chim phượng bằng đất nung, niên đại thời Lý thế kỷ XI–XII, tìm thấy ở hố A20 khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, phát lộ cùng nhiều hiện vật và dấu tích nền móng kiến trúc thời Lý, thời Trần. Theo trang Hoàng thành Thăng Long, thân lá đề cao 77 cm, chỗ rộng nhất 74 cm; phần đế rộng 65,5 × 34 cm, cao 13 cm. Hiện vật được Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia trong đợt 10 năm 2021. VietnamPlus cho biết lá đề được phát lộ năm 2003 và gọi đây là một chiếc ngói nóc lớn.
Bố cục cho thấy vì sao hiện vật này quý. Diềm lá đề là họa tiết cuồng lửa nhiều lớp, tia lửa kéo lên trên; trung tâm là đôi chim phượng dâng ngọc báu trên nền văn sen dây lá, được VietnamPlus tả là hai con phượng nhún nhảy, chầu ngọc. Vì quy mô lớn, các nhà nghiên cứu được trang Hoàng thành dẫn cho rằng lá đề có thể được đặt ở chính giữa nóc mái cung điện. Trang này mô tả hiện vật là sự kết hợp hài hòa giữa biểu tượng, triết lý Phật giáo với biểu trưng uy quyền của hoàng gia.
Một lá đề phượng múa trên hoa sen
Bài trên Thanh Niên (5/2024) giới thiệu một lá đề trang trí chim phượng đất nung thời Lý ở Hoàng thành, tìm thấy trong lớp đất xáo trộn lấp phủ lên phần sân gạch nối giữa các kiến trúc hành lang. Con phượng đang nhảy múa trên hoa sen, đầu ngẩng cao, mỏ chụm lại, một chân co, một chân làm trụ; đuôi nhiều lớp, uốn lượn nhiều khúc vút lên đỉnh lá đề. Vì bối cảnh phát hiện được hai nguồn mô tả khác nhau, bài này không gộp hiện vật ấy với lá đề ở hố A20.
Sưu tập đầu phượng
Cùng khu 18 Hoàng Diệu còn có sưu tập đầu phượng thời Lý thế kỷ XI–XII gồm 5 hiện vật đất nung, được công nhận bảo vật quốc gia đợt 13 năm 2024, theo Dân trí. Các đầu phượng có bờm uốn nhiều khúc hướng về trước, mỏ dài, má phình, mào hình lá đề nghiêng về trước, mắt to tròn và tai lớn uốn lượn, trong tư thế chuyển động mạnh mẽ và sinh động. Toàn bộ hoa văn được khắc bằng tay, và theo Dân trí, sưu tập này là minh chứng giúp nhận diện bộ mái kiến trúc thời Lý, Trần.
Còn Phật Tích thì sao?
Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) hay được nhắc cùng mỹ thuật Lý: theo Giác Ngộ, năm 1057 vua Lý Thánh Tông cho dựng tháp và đúc tượng ở đây, và khi đào móng xây lại nhà Tam Bảo, người ta đã tìm thấy gạch cổ có chữ đề niên hiệu thời Lý. Tuy vậy, trong các nguồn đã tra, trang trí nổi bật tại Phật Tích là rồng và sen: bệ tượng A Di Đà thế kỷ XI trang trí cánh sen, sóng nước, rồng, mây lửa. Nếu muốn nhìn phượng Lý tận mắt, Hoàng thành Thăng Long vẫn là nơi có bằng chứng rõ nhất.
Cách nhận ra một con phượng thời Lý
Gom các mô tả trên lại, có thể dùng danh sách sau khi đứng trước một hình phượng:
- Đuôi: nhiều tua lông kết thành chùm, uốn lượn; chưa tách thành 3 dải viền răng cưa. Dấu hiệu này tách phượng Lý với những hình phượng đuôi 3 dải răng cưa về sau, nhưng không tách được với phượng Trần sớm: theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đôi phượng trán bia chùa Thiệu Long (1226) và các phượng đất nung thời Trần trong khuôn lá đề vẫn để đuôi chùm.
- Tư thế: thường đứng trên đài sen hoặc hoa sen. Có con đứng múa, một chân làm trụ, chân kia co lên, như ở thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng và lá đề Thanh Niên mô tả; có con đứng nhìn vào giữa bia như bốn phượng Diên Phúc. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, phượng đứng trên đài sen gặp ở bia cả thời Lý lẫn thời Trần, nên dấu hiệu này không riêng thời Lý.
- Chân: không có một kiểu chung. Phượng thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng chân dài như chân hạc; bốn phượng bia chùa Diên Phúc (1157) chân hơi ngắn. Chân hạc cũng không riêng thời Lý: phượng trán bia các lăng Lê sơ như lăng bà Kính phi, lăng Đường Vương, lăng Cẩm Vinh chân ngắn kiểu chân gà với 3 móng sắc nhọn, nhưng riêng phượng trán bia lăng Thiều Dương lại chân cao như chân hạc. Vì vậy chỉ nhìn chân thì không định được thời kỳ.
- Khung và tâm: ở lá đề chim phượng hố A20, trung tâm là đôi phượng dâng ngọc báu trên nền văn sen dây lá, còn lửa là họa tiết cuồng lửa ở diềm; ở hình phượng đất nung sưu tầm ở vùng Thăng Long xưa mà Bảo tàng Lịch sử Quốc gia mô tả, lửa là hai đao lửa đỡ hai bên phía dưới. Khung lá đề một mình không đủ để định niên đại: cũng theo Bảo tàng, ở thời Trần thường gặp phượng đất nung bố cục thành đôi trong khuôn hình lá đề, và TS Nguyễn Đình Chiến nhận xét lá đề rồng, phượng thời Trần giống thời Lý, nhưng giảm sự trau chuốt.
- Đầu: mô tả chi tiết nhất đến từ sưu tập đầu phượng ở Hoàng thành: bờm uốn nhiều khúc về trước, mỏ dài, má phình, mào hình lá đề, mắt to tròn, tai lớn. Không nên coi đó là chuẩn chung, vì bốn phượng bia Diên Phúc lại cổ rụt, mắt nhỏ, mỏ kiểu mỏ vẹt.
Không dấu hiệu đơn lẻ nào đủ để kết luận. Nên nhìn cả tổ hợp và đối chiếu với niên đại của công trình hoặc lớp đất nơi hiện vật được tìm thấy.
Phượng sau thời Lý, nói gọn
Chặng đổi dáng của phượng qua các triều sau đã được điểm theo từng thời kỳ trong mục Phụng của bài Tứ linh là những con gì. Nói gọn theo bài tổng hợp của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: phượng Trần sớm, như đôi phượng đứng chầu, cánh cuộn xoắn trên trán bia chùa Thiệu Long (1226), vẫn rất giống phượng Lý, đuôi kết thành chùm; về sau, vào thế kỷ XIII, đuôi phượng thành 3 dải răng cưa, như phượng chở tiên nữ ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên); TS Nguyễn Đình Chiến nhận xét lá đề rồng, phượng thời Trần giống thời Lý nhưng giảm sự trau chuốt. Thời Lê sơ, phượng trên trán bia lăng bà Kính phi họ Nguyễn (1485), lăng Đường Vương, con trai vua Lê Thánh Tông (1492), và lăng Cẩm Vinh, con gái nhà vua (1498), có chân ngắn kiểu chân gà với 3 móng sắc nhọn, riêng phượng trán bia lăng Thiều Dương chân cao như chân hạc. Đến thời Nguyễn, TS Trần Đức Anh Sơn cho biết áo hoàng hậu thêu phượng, còn áo công chúa chỉ thêu chim loan, giống phượng nhưng chỉ có một dải đuôi.
Phượng Việt và phượng Trung Hoa khác nhau đến đâu
Đây là chỗ dễ nói quá. Trang Hoàng thành Thăng Long giới thiệu phượng là loài chim thần thoại xuất hiện từ Trung Hoa, lan truyền và ảnh hưởng đến Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên; bài về lá đề chim phượng trên VietnamPlus (2022) cũng viết phượng có nguồn gốc từ Trung Hoa như một thông tin nền, không dẫn nhà nghiên cứu nào. Nhưng đó chưa phải kết luận chung: bài tổng hợp của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nguồn gốc phượng đến nay còn nhiều vấn đề đang được bàn luận, tranh cãi, và có nhà nghiên cứu cho là gốc phương Nam. Vì vậy không nên khẳng định có một "phượng Việt" tách biệt hoàn toàn, cũng không nên coi phượng Việt chỉ là bản sao.
Ở từng hiện vật cụ thể, khác biệt là có thật. Theo bài Thanh Niên về lá đề phượng múa trên hoa sen, các nhà nghiên cứu cho rằng con phượng này rất khác chuẩn mực tạo hình chim phượng Trung Hoa: nghệ nhân đã đưa vào đặc điểm của chim trĩ và chim công, những loài sống phổ biến ở nam Trung Hoa và Đông Nam Á nhưng rất hiếm ở vùng Trung Nguyên, với mắt, hàm to tròn giống chim trĩ, mỏ to và mào lớn hướng về trước như chim công, đuôi nhiều lớp. Cách nói thận trọng nhất vì thế là: phượng Lý có những lựa chọn tạo hình riêng, dễ nhận ra, chứ không phải một con vật khác hẳn.
Từ tư liệu đến graphic
Phượng Lý là chất liệu thiết kế rất giàu: dáng đứng trên sen, đuôi kết chùm và khung lá đề cho sẵn một bố cục cân đối. Khi đưa phượng lên áo, cách giữ gốc gác là chọn một thời kỳ và giữ đúng dấu hiệu của nó, thay vì trộn đuôi răng cưa của phượng về sau với dáng múa của phượng Lý. Teeworld có hai cách đọc hình tượng này: Vietnamese Phoenix Tee có phượng hoàng, mây lành và hoa sen ở mặt lưng áo đen, với dấu triện đỏ ở ngực trái; còn Phượng Hoàng Tee trong bộ sưu tập Thần Thoại Việt Nam là một bản artwork rực sắc nhưng dễ mặc, cùng form oversized cotton 220gsm. Những biểu tượng khác được lưu trong Teeworld Archive.
Câu hỏi thường gặp
Phượng hoàng thời Lý có đặc điểm gì?
Phượng Lý thường đứng trên đài sen, đuôi nhiều tua kết chùm, chưa tách thành các dải răng cưa như phượng về sau; phượng Trần sớm vẫn còn đuôi chùm. Dáng và chân thay đổi theo hiện vật: phượng thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng đứng múa, chân dài như chân hạc, còn phượng bia chùa Diên Phúc thân mập, chân hơi ngắn. Trên lá đề chim phượng ở Hoàng thành, đôi phượng dâng ngọc báu, lửa ở phần diềm.
Có thể xem phượng thời Lý ở đâu?
Rõ nhất là các hiện vật đào được ở khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, Hoàng thành Thăng Long, như lá đề chim phượng và sưu tập đầu phượng, đều là bảo vật quốc gia. Hình phượng Lý còn trên thành bậc chùa Bà Tấm, chùa Lạng và bia chùa Diên Phúc.
Phượng hoàng tượng trưng cho điều gì?
Phượng là điềm lành, báo thời thái bình; là biểu tượng của mặt trời, phương Nam, mùa hạ. Khi đi cùng rồng, phượng biểu thị yếu tố âm và hoàng hậu. Ở thời Lý, phượng còn gắn chặt với biểu tượng Phật giáo như hoa sen, lá đề. Các lớp nghĩa của phượng trong bộ tứ linh có trong bài Tứ linh là những con gì.
Phượng và rồng khác nhau thế nào về ý nghĩa?
Rồng mang yếu tố dương, gắn với vua; phượng mang yếu tố âm, gắn với hoàng hậu. Cặp rồng phượng, hay "long phụng trình tường", chỉ hạnh phúc lứa đôi, may mắn và thịnh vượng. Xem thêm bài Tứ linh là những con gì.
Phượng Việt Nam có khác phượng Trung Quốc không?
Nguồn gốc phượng còn tranh luận. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, phượng xuất hiện rất sớm trong văn hóa Trung Hoa, nhưng có nhà nghiên cứu cho rằng phượng có gốc phương Nam. Về tạo hình, có hiện vật Việt được nhận xét là rất khác chuẩn mực Trung Hoa, như lá đề phượng thời Lý mang đặc điểm chim trĩ, chim công. Nên so sánh theo từng hiện vật thay vì khái quát.
Nguồn tham khảo
- Hình tượng chim phượng trong văn hóa truyền thống Việt Nam - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Long phụng trình tường - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Vật liệu trang trí kiến trúc thời Lý – Trần thế kỷ 11-14 (Phần 2) - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Lá đề chim phượng, bảo vật quốc gia ở Hoàng thành Thăng Long - Trang thông tin Hoàng thành Thăng Long
- Bảo vật Quốc gia Lá đề chim phượng và những ý nghĩa đặc sắc - VietnamPlus
- Bảo vật quốc gia: Lá đề thời Lý có hình chim phượng múa trên hoa sen - Báo Thanh Niên
- Chiêm ngưỡng 3 bảo vật quốc gia mới tại Hoàng thành Thăng Long - Báo Dân trí
- Hai bảo vật quốc gia độc bản nghìn năm tuổi chùa Phật Tích - Báo Dân trí
- Chùa Phật Tích - Bắc Ninh - Báo Giác Ngộ
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







