Nam quốc sơn hà là bài thơ chữ Hán bốn câu, mỗi câu bảy chữ, thường được gọi là “bài thơ thần” và lâu nay gắn với tên Lý Thường Kiệt. Nhưng câu trả lời ngắn cho câu hỏi “ai là tác giả” là: chưa ai biết. Các nhà nghiên cứu Hán Nôm như Bùi Duy Tân, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hùng Vĩ đã nhiều lần khẳng định bài thơ không phải của Lý Thường Kiệt, theo VOV; sách giáo khoa Ngữ văn 9 bộ Cánh diều ghi tác giả là khuyết danh.
Hoàn cảnh ra đời cũng chưa ngã ngũ. Nguồn cổ sớm nhất đặt bài thơ vào cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý Nhân Tông, còn một nguồn cổ khác đặt nó vào năm 981 thời Lê Hoàn. Bài này không chép lại bài giảng, mà đặt văn bản, dị bản và các giả thuyết cạnh nhau để người đọc tự thấy chỗ nào là dữ kiện, chỗ nào còn bàn.

Văn bản bài thơ và các dị bản
Báo Văn Nghệ in bản phiên âm theo nguyên bản chữ Hán trong Đại Việt sử ký toàn thư:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đại ý: sông núi nước Nam là nơi vua nước Nam ở, điều ấy đã được định rõ trong sách trời; cớ sao kẻ nghịch lại sang xâm phạm, rồi các ngươi sẽ thấy mình chuốc lấy thất bại. Nhan đề quen thuộc trong sách giáo khoa, “Sông núi nước Nam”, là do người sau đặt, theo Dân Trí.
Vấn đề là không có một bản duy nhất. TS Phạm Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nói với VOV rằng có tới 35 dị bản bằng chữ Hán. Báo Văn Nghệ dẫn thống kê của Nguyễn Thị Oanh: khoảng 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích, lưu ở các thư viện tại Hà Nội. Dân Trí thì viết “khoảng 30 dị bản”. Con số lệch nhau tùy cách đếm, nhưng điểm chung là bài thơ tồn tại dưới nhiều dạng chữ khác nhau.
Chỗ khác nhau không nhỏ. Theo bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Oanh đăng trên trang của Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, bản trong Việt điện u linh có câu hai là “Tiệt nhiên phận định tại thiên thư”, còn bản Lĩnh Nam chích quái viết “Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư”. Ở câu ba, bản Lĩnh Nam chích quái dùng “Bắc lỗ” (giặc Bắc), bản Việt điện u linh dùng “nghịch lỗ”; câu bốn của hai bản là hai câu khác hẳn, bản Lĩnh Nam chích quái là “Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ”.
Nguyễn Thị Oanh đọc các khác biệt này theo hướng bản Lĩnh Nam chích quái có trước: theo bà, chữ “Bắc lỗ”, vốn chỉ đích danh giặc phương Bắc, về sau bị thay bằng chữ chỉ chung mọi kẻ thù, và câu cuối được thay hẳn bằng “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Theo Báo Văn Nghệ, văn bản trong Việt điện u linh giống hệt bản chép trong Đại Việt sử ký toàn thư sau này.
Hai nguồn sớm nhất, hai câu chuyện khác nhau
Hai sách cổ quan trọng nhất đều kể bài thơ do thần ngâm lên giữa lúc giao tranh, trong truyện về hai vị thần Trương Hống, Trương Hát. Việt điện u linh kể thần hiển hiện trong đêm đọc bài thơ; Lĩnh Nam chích quái kể thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm thơ. Nhưng hai sách đặt câu chuyện vào hai cuộc chiến khác nhau.
| Việt điện u linh | Lĩnh Nam chích quái | |
|---|---|---|
| Người soạn, niên đại | Lý Tế Xuyên, năm 1329 | Tương truyền của Trần Thế Pháp, khoảng cuối thế kỷ XIV |
| Bối cảnh bài thơ | Thời vua Lý Nhân Tông, quân Tống sang, Lý Thường Kiệt lập trại ven sông chống giữ | Năm Tân Tị niên hiệu Thiên Phúc triều Lê, quân Tống đến cửa biển Đại Than |
| Năm tương ứng | Cuộc chiến 1076–1077 | Năm 981 |
| Câu hai | Tiệt nhiên phận định tại thiên thư | Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư |
Niên đại hai sách và chữ “tương truyền” về người soạn Lĩnh Nam chích quái lấy theo Báo Văn Nghệ; nội dung bối cảnh và câu thơ lấy theo bài của Nguyễn Thị Oanh. Theo VOV, bài thơ chỉ được đưa vào chính sử khi nhà Lê biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư.
Vấn đề tác giả: Lý Thường Kiệt, thần, hay khuyết danh
Không có sách cổ nào ghi Lý Thường Kiệt là người viết. Trong cả hai truyện kể, bài thơ là lời của thần chứ không phải của Lý Thường Kiệt; ông, nếu có mặt trong truyện, là người chỉ huy trận đánh chứ không phải người làm thơ. PGS Bùi Duy Tân gọi đây là “một bài thơ Thần - vô danh”, theo VOV. PGS.TS Hà Văn Minh, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, nói với Dân Trí rằng không có bản nào trong khoảng 30 dị bản ghi tác giả là Lý Thường Kiệt.
Vậy cách hiểu “thơ của Lý Thường Kiệt” từ đâu ra? Báo Văn Nghệ chỉ ra một mốc: trong Việt Nam sử lược xuất bản năm 1918, Trần Trọng Kim kể rằng vì sợ quân mình ngã lòng, Lý Thường Kiệt đã đặt ra chuyện có thần cho bốn câu thơ. Cách kể này biến bài thơ thành mưu kế của vị tướng, và theo tác giả bài báo, nhiều khả năng đã khởi đầu cách hiểu phổ biến về sau.
Sách giáo khoa đã ghi thế nào
- Sách Văn học 9, dùng từ năm 1990, ghi “Lí Thường Kiệt?” kèm dấu hỏi, chú thích rằng lai lịch bài thơ chưa rõ ràng và tạm để tên ông “như là người sử dụng bài thơ”, theo Dân Trí.
- Sách Ngữ văn 7 giai đoạn 2003–2023 kể truyền thuyết quân sĩ nghe tiếng ngâm thơ từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát.
- Sách Ngữ văn 9 bộ Cánh diều theo chương trình 2018 đề tác giả là khuyết danh.
Nói cách khác, chính sách giáo khoa cũng đã chuyển từ “Lý Thường Kiệt có dấu hỏi” sang “khuyết danh” trong hơn ba mươi năm.
Hoàn cảnh ra đời: sông Như Nguyệt hay thời Lê Hoàn
Giả thuyết gắn với sông Như Nguyệt
Đây là bối cảnh quen thuộc nhất, theo truyền thống của Việt điện u linh. Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia, năm 1076 quân Tống bắt đầu tiến sang, do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy, và các trận đánh ở phòng tuyến Như Nguyệt diễn ra vào đầu năm 1077 dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt. Ngày nay bài thơ được khắc trên bia đá tại đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt ở vùng huyện Yên Phong cũ, Bắc Ninh, sát đê sông Cầu, theo Nhân Dân.
Giả thuyết gắn với năm 981
Truyền thống của Lĩnh Nam chích quái đặt bài thơ vào cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 thời Lê Đại Hành, cuộc chiến mà một phần diễn ra trên sông Bạch Đằng, như kể trong bài Trận Bạch Đằng: ba lần chiến thắng trên một dòng sông. Nguyễn Thị Oanh kết luận nên khẳng định thời điểm ra đời gắn với cuộc kháng chiến năm 981, dù bài thơ về sau đã được sửa đổi. Tác giả Vũ Thanh trên Báo Văn Nghệ cũng cho rằng bài thơ nhiều khả năng ra đời vào thời kỳ đầu tự chủ, khoảng thế kỷ X, có thể vào những năm Lê Đại Hành.
Cần nói rõ: đây là kết luận của các tác giả cụ thể dựa trên so sánh văn bản, không phải kết luận đã được mọi nhà nghiên cứu chấp nhận. Việc nguồn sớm nhất còn lại, Việt điện u linh, lại gắn bài thơ với thời Lý là lý do cuộc tranh luận vẫn còn.
Đọc bài thơ: vì sao nó được gọi là tuyên ngôn
Nhân Dân gọi Nam quốc sơn hà là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên”. Đọc sát văn bản, sức nặng nằm ở ba chữ then chốt. “Nam đế” đặt vua nước Nam ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. “Thiên thư” đưa ranh giới lãnh thổ lên thành điều trời đã định, tức là không cần ai khác thừa nhận. Còn câu cuối biến lời khẳng định thành lời cảnh báo.
Điều thú vị là giá trị này không phụ thuộc vào việc ai viết. Chính vì bài thơ được kể là tiếng thần, không thuộc về một cá nhân, nó mang tư cách lời của đất nước hơn là lời của một vị tướng. Việc có nhiều dị bản, nhiều bối cảnh cũng cho thấy bài thơ đã được nhiều thế hệ dùng lại mỗi khi cần nói về chủ quyền.
Từ tư liệu đến graphic
Với thiết kế, Nam quốc sơn hà là chất liệu chữ nhiều hơn chất liệu hình. Bảy chữ của câu đầu đã đủ làm một bố cục; nhịp bốn câu, dáng chữ Hán, và khái niệm “thiên thư” gợi ra một ngôn ngữ thị giác nghiêm và thoáng. Điều nên tránh là gán cứng tên tác giả lên thiết kế, vì chính văn bản học đã cho thấy câu chuyện phức tạp hơn thế.
Trong collection Thần Thoại Việt Nam, Nam Quốc Tee là áo thun graphic form oversized, cotton 220gsm, lấy cảm hứng từ hào khí Lý Thường Kiệt và tuyên ngôn non sông. Những câu chuyện lịch sử khác được lưu trong kho lưu trữ Teeworld.
Câu hỏi thường gặp
Tác giả Nam quốc sơn hà là ai?
Chưa xác định. Các nhà nghiên cứu Hán Nôm cho rằng bài thơ khuyết danh, và sách Ngữ văn 9 bộ Cánh diều ghi tác giả là khuyết danh.
Nam quốc sơn hà có phải của Lý Thường Kiệt?
Không có văn bản cổ nào ghi ông là tác giả. Truyền thống gắn bài thơ với trận Như Nguyệt khiến tên ông đi kèm bài thơ, và Việt Nam sử lược (1918) của Trần Trọng Kim góp phần phổ biến cách hiểu này.
Vì sao gọi là bài thơ thần?
Vì trong các truyện kể cổ, bài thơ là lời của thần, gắn với hai vị thần Trương Hống, Trương Hát, chứ không phải của một người cụ thể. Chi tiết thì khác nhau: bản Việt điện u linh mà Báo Văn Nghệ dẫn kể quân sĩ nghe tiếng ngâm cất lên trong đền, và sách Ngữ văn 7 cũ cũng kể tiếng ngâm từ đền thờ hai vị thần; còn bản Lĩnh Nam chích quái, theo Nguyễn Thị Oanh, kể thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm thơ.
Nam quốc sơn hà ra đời năm nào?
Có hai giả thuyết chính: gắn với cuộc chiến chống Tống năm 1076–1077 (theo Việt điện u linh) hoặc năm 981 thời Lê Hoàn (theo Lĩnh Nam chích quái). Một số nhà nghiên cứu nghiêng về năm 981, nhưng vấn đề chưa ngã ngũ.
Nam quốc sơn hà có bao nhiêu dị bản?
Các nguồn đưa ra khoảng 30 đến 35 dị bản chữ Hán, chưa kể các dị bản trong thần tích.
Nguồn tham khảo
- Nam quốc sơn hà có 35 dị bản, không phải của Lý Thường Kiệt - VOV
- Nam quốc sơn hà, tác phẩm quen thuộc nhưng nhiều tranh luận - Dân Trí
- Sách giáo khoa 36 năm trước viết gì về tác giả bài Nam quốc sơn hà - Dân Trí
- Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà - Báo Văn Nghệ
- Về thời điểm ra đời của bài Nam quốc sơn hà (Nguyễn Thị Oanh) - Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV TP.HCM
- Như Nguyệt - nơi gắn liền những chiến công hiển hách - Bảo tàng Lịch sử quốc gia
- Những bản tuyên ngôn trên sóng nước - Báo Nhân Dân
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







