Hùng Vương là danh xưng chung của các vị vua đứng đầu nước Văn Lang, nhà nước mà sử cũ và truyền thuyết coi là khởi đầu của người Việt, đóng đô ở Phong Châu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hùng Vương là con Lạc Long Quân, chia nước làm 15 bộ, đặt quan văn là Lạc hầu, quan võ là Lạc tướng, và từ Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương cuối cùng kéo dài 2.622 năm. Những con số như 18 đời hay 2.622 năm thuộc về lớp truyền thống sử học, không phải dữ kiện đo được.
Để hiểu Hùng Vương, cần tách ba lớp: truyền thuyết (con Rồng cháu Tiên, 18 đời vua), ghi chép của sử cũ (Đại Việt sử lược, Toàn thư), và bằng chứng khảo cổ về các nền văn hóa Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Lớp thứ tư là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thứ đang sống rất rõ mỗi dịp Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch và đã được UNESCO ghi danh năm 2012.

Lớp thứ nhất: truyền thuyết và con số 18 đời
Câu chuyện bắt đầu từ Lạc Long Quân và Âu Cơ, bọc trăm trứng, năm mươi con theo mẹ lên núi, người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương và đặt tên nước là Văn Lang. Phần này đã có bài riêng về truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, nên ở đây chỉ nhấn vào một điểm: theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, câu chuyện được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, và bảo tàng ghi nhận “bọc trăm trứng” là truyền thuyết.
Con số 18 đời là chỗ dễ gây hiểu lầm nhất. Theo Báo Sức khỏe & Đời sống, GS Nguyễn Lân Dũng cho rằng “18 đời Vua chỉ là con số biểu trưng, có nghĩa là nhiều đời Vua, truyền nối lâu dài”. Bài báo cũng dẫn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim: chia ra thì mỗi vua trị vì non 150 năm, điều khó có thể xảy ra.
Một dấu vết khác nằm ở ngọc phả. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nhắc tới Hùng triều ngọc phả, tức ngọc phả về “18 chi đời Thánh vương triều Hùng”: ngay trong văn bản truyền thống, con số 18 đã được ghi bằng chữ “chi” chứ không chỉ chữ “đời”. Dù đọc theo cách nào, con số 18 cũng không nên được hiểu như một danh sách biên niên.
Lớp thứ hai: sử cũ chép gì về Hùng Vương và nước Văn Lang
Theo Tuổi Trẻ, GS Lê Văn Lan dẫn câu mở đầu của Đại Việt sử lược, cuốn sử được đưa về Trung Quốc từ thời nhà Minh: vào thời Chu Trang Vương, ở bộ Gia Linh (chữ in trong bài báo) có dị nhân dùng ảo thuật át phục các bộ lạc khác, lên làm vua xưng là Hùng Vương. Báo Sức khỏe & Đời sống cho biết Đại Việt sử lược là sách của một tác giả khuyết danh, ra đời thời nhà Trần.
Đại Việt sử ký toàn thư dựng một khung chi tiết hơn. Theo bản dịch của Mạc Bảo Thần trên Wikisource, Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, tức huyện Bạch Hạc thời sau, đặt quốc hiệu Văn Lang, chia nước làm mười lăm bộ, đặt Lạc hầu, Lạc tướng; con trai vua gọi là quan lang, con gái gọi là mị nương, và theo lối cha truyền con nối. Toàn thư tính từ Kinh Dương Vương đến hết đời Hùng Vương là 2.622 năm, tức từ năm 2879 đến 258 trước Công nguyên theo cách quy đổi mà Báo Sức khỏe & Đời sống dẫn lại.
Chính người dịch Toàn thư đã bày tỏ sự hoài nghi với các con số này, vì chúng đến từ truyền thuyết hơn là ghi chép đương thời. GS Lê Văn Lan cũng lưu ý Toàn thư, do Ngô Sĩ Liên làm tổng chủ biên, có phần mở đầu gọi là “phần ngoại truyện có tên Kỷ Hồng Bàng”; trong bản Toàn thư trên Wikisource, phần này nằm ở mục Ngoại kỷ. Nói cách khác, chính cách sắp xếp của Toàn thư đã đặt thời Hồng Bàng riêng ra ở đầu sách.
| Điều được nói tới | Nguồn | Tính chất |
|---|---|---|
| Bọc trăm trứng, Hùng Vương là con Lạc Long Quân | Lĩnh Nam chích quái, Toàn thư | Truyền thuyết |
| 18 đời Hùng Vương | Sử cũ và ngọc phả (“18 chi”) | Con số biểu trưng, còn nhiều cách hiểu |
| 2.622 năm, từ 2879 đến 258 TCN | Toàn thư | Niên đại truyền thống, không kiểm chứng được |
| Văn Lang, 15 bộ, Lạc hầu, Lạc tướng, kinh đô Phong Châu | Toàn thư | Ghi chép sử cũ, có đối chiếu với khảo cổ ở mức vùng đất và thời kỳ |
| Các văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn | Khảo cổ học | Bằng chứng vật chất về cư dân và kỹ thuật, không cho biết tên vua |
Lớp thứ ba: khảo cổ học từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn
Khảo cổ học không tìm ra tên từng vị Hùng Vương, nhưng cho thấy một vùng đất có cư dân liên tục phát triển qua nhiều thiên niên kỷ. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xếp bốn nền văn hóa vào thời đại Hùng Vương:
- Phùng Nguyên, khoảng 4.000 đến 3.500 năm trước, phát hiện năm 1959 ở làng Phùng Nguyên, huyện Lâm Thao cũ, tỉnh Phú Thọ: công cụ đá, gốm tinh xảo, tượng động vật bằng đất nung như bò, gà, và đã có dấu vết luyện kim.
- Đồng Đậu, khoảng 3.500 đến 3.000 năm trước, ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay thuộc tỉnh Phú Thọ): kỹ thuật luyện kim đồng thau phát triển, hiện vật đồng thau chiếm khoảng 1/5 số công cụ và vũ khí.
- Gò Mun, khoảng 3.000 đến 2.500 năm trước, phát hiện năm 1961 ở Phú Thọ: đồ đá giảm, hiện vật kim loại chiếm tới 50% tổng số hiện vật.
- Đông Sơn, khoảng 2.500 đến 1.800 năm trước, phát hiện năm 1924 bên hữu ngạn sông Mã, Thanh Hóa: trống đồng được xem là biểu tượng, và đã có dấu hiệu luyện sắt.
Theo Tuổi Trẻ, trong bốn năm 1969–1972, một nhóm nhà sử học do GS Phạm Huy Thông đứng đầu đã nghiên cứu liên ngành về thời kỳ này, và kết quả cho thấy trống đồng, văn hóa Đông Sơn tương ứng với thời đại Hùng Vương. Đây là cách các nhà nghiên cứu nối lớp sử cũ với lớp khảo cổ: không phải chứng minh từng vị vua, mà chứng minh có một xã hội đủ phát triển để hình thành nhà nước sơ khai. Về trống đồng, xem thêm bài hoa văn trống đồng Đông Sơn và chim Lạc trên trống đồng.
Địa danh cấp huyện trong danh sách là nơi phát hiện theo bảo tàng, tức địa danh trước ngày 01/7/2025; từ ngày này cả nước vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và không còn cấp huyện.
Cần nói rõ giới hạn: các niên đại trên là khoảng ước tính của bảo tàng, và việc gọi cả bốn nền văn hóa là “thời đại Hùng Vương” là một cách đặt tên của giới sử học Việt Nam, dùng tên truyền thống cho một chuỗi phát hiện khảo cổ.
Đền Hùng: nơi ba lớp gặp nhau
Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (núi Hùng), nay thuộc xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ. Theo Báo Tiền Phong, xã Hy Cương mới được lập từ ba xã Hy Cương, Thanh Đình, Chu Hóa, vốn thuộc thành phố Việt Trì trước tháng 7/2025. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi núi Hùng thuộc đất Phong Châu, vốn được coi là đất đế đô của nhà nước Văn Lang. Khu di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009.
Các công trình thuộc nhiều thời kỳ khác nhau: đền Hạ có niên đại thế kỷ XVII–XVIII, đền Giếng thế kỷ XVIII, cổng đền xây năm 1917; ngoài ra có đền Trung, đền Thượng, chùa Thiên Quang, lăng Hùng Vương (tương truyền là mộ vua Hùng thứ 6), đền Tổ mẫu Âu Cơ (khởi dựng năm 2001, khánh thành tháng 12/2004) và đền thờ Lạc Long Quân (khởi công năm 2007, khánh thành năm 2009). Như vậy, kiến trúc Đền Hùng không có niên đại thời Văn Lang; nó là không gian thờ tự được người đời sau dựng lên và bồi đắp liên tục.
Phú Thọ cũng là vùng có nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng: Phùng Nguyên ở huyện Lâm Thao cũ, Gò Mun cũng ở Phú Thọ, và từ năm 2025 cả vùng Đồng Đậu cũng thuộc tỉnh Phú Thọ. Sự trùng hợp địa lý này là một lý do khiến truyền thống coi vùng đất quanh núi Nghĩa Lĩnh là trung tâm của Văn Lang.
Giỗ Tổ Hùng Vương và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày 10 tháng 3 âm lịch. Theo Báo Nhân Dân, năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22 cho phép công chức nghỉ ngày 10-3 âm lịch hằng năm để làm lễ Giỗ Tổ. Năm 2007, Luật số 84/2007/QH11 sửa đổi Điều 73 Bộ luật Lao động, được Quốc hội thông qua ngày 2/4/2007, đưa “Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: một ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch)” vào danh sách ngày lễ người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương.
Về danh hiệu UNESCO, cần ghi đúng tên. Theo trang Di sản phi vật thể của UNESCO, di sản có tên “Worship of Hùng kings in Phú Thọ” (Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ), được ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012, theo Quyết định 7.COM 11.36. Báo Nhân Dân ghi ngày công nhận là 6-12-2012, tại phiên họp thứ 7 của Ủy ban liên chính phủ. Hồ sơ UNESCO mô tả trung tâm tín ngưỡng là đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, với lễ hội Giỗ Tổ kéo dài khoảng một tuần vào đầu tháng 3 âm lịch, có rước kiệu, dâng bánh chưng, trình diễn trống đồng và hát Xoan.
Chi tiết bánh chưng trong lễ vật liên quan tới sự tích Lang Liêu, đã có bài riêng về bánh chưng bánh giầy. Những truyền thuyết khác được đặt vào thời Hùng Vương, như Sơn Tinh Thủy Tinh hay Thánh Gióng, cũng thuộc cùng một kho ký ức ấy.
Vì sao Hùng Vương vẫn quan trọng dù không kiểm chứng được từng đời vua
Giá trị của Hùng Vương không nằm ở việc chứng minh 18 vị vua có thật. Nó nằm ở chỗ người Việt đã dùng hình tượng này để trả lời câu hỏi “chúng ta từ đâu đến”, và câu trả lời ấy được ghi vào sử từ Đại Việt sử lược thời Trần đến Đại Việt sử ký toàn thư, rồi được nuôi bằng lễ nghi đến hôm nay. Hồ sơ UNESCO mô tả tín ngưỡng này như dịp để nhận thức về cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa, đạo đức của người Việt.
Với người đọc hôm nay, cách tiếp cận lành mạnh nhất là giữ cả ba lớp cùng lúc: tôn trọng truyền thuyết như truyền thuyết, đọc sử cũ với ý thức về thời điểm nó được viết, và tin vào khảo cổ ở đúng phạm vi mà nó chứng minh được.
Từ tư liệu đến graphic
Hùng Vương là một chủ đề khó vẽ, vì không có chân dung, không có hiện vật mang tên vua. Chất liệu thị giác thật sự nằm ở khảo cổ và tín ngưỡng: vành hoa văn trống đồng, chim Lạc, người đội mũ lông chim, núi Nghĩa Lĩnh. Một thiết kế tốt thường mượn những dấu vết có thật ấy để gợi thời Văn Lang, thay vì dựng một nhân vật vua theo tưởng tượng.
Collection Thần Thoại Việt Nam của Teeworld có Hùng Vương Tee, áo thun graphic form oversized cotton 220gsm tôn vinh cội nguồn Văn Lang qua ngôn ngữ streetwear Việt, và Lạc Long Quân Tee, áo oversized 220gsm với artwork mặt trước và lưng trơn. Các câu chuyện khác được lưu trong kho lưu trữ Teeworld.
Câu hỏi thường gặp
Các vua Hùng có thật không?
Khảo cổ học cho thấy vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ có các cộng đồng cư dân phát triển liên tục từ văn hóa Phùng Nguyên đến Đông Sơn, và giới sử học Việt Nam gọi giai đoạn này là thời đại Hùng Vương. Tuy nhiên, tên tuổi và số đời vua cụ thể thì không kiểm chứng được; con số 18 đời được một số nhà nghiên cứu coi là biểu trưng.
Có bao nhiêu đời vua Hùng?
Truyền thống ghi 18 đời. Có ý kiến, như của GS Nguyễn Lân Dũng, coi đây là con số biểu trưng cho “nhiều đời”; Hùng triều ngọc phả thì ghi là “18 chi đời”. Không nên đọc con số này như một danh sách biên niên.
Nước Văn Lang ở đâu, kinh đô ở đâu?
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, kinh đô Văn Lang ở Phong Châu. Đền Hùng ở Phú Thọ được coi là nằm trên đất Phong Châu xưa.
Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày nào?
Ngày 10 tháng 3 âm lịch. Từ năm 2007, đây là ngày nghỉ lễ hưởng nguyên lương của người lao động.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận năm nào?
Năm 2012, với tên gọi “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nguồn tham khảo
- Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Hùng Vương (bản dịch Mạc Bảo Thần) - Wikisource tiếng Việt
- Huyền thoại bọc trăm trứng trong các sách sử - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Các nền văn hóa thuộc thời đại Hùng Vương - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- GS Lê Văn Lan: Thời đại vua Hùng là có thật - Tuổi Trẻ
- 18 vị vua Hùng là ai? - Báo Sức khỏe & Đời sống
- Di tích lịch sử Đền Hùng - Cục Di sản văn hóa
- Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng - ý nghĩa tốt đẹp của tinh thần giữ nước - Báo Nhân Dân
- Worship of Hùng kings in Phú Thọ - UNESCO Intangible Cultural Heritage
- Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng thuộc địa bàn xã, phường nào sau sáp nhập - Báo Tiền Phong
- Luật số 84/2007/QH11 sửa đổi, bổ sung Điều 73 Bộ luật Lao động - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản)
- Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh - Báo Điện tử Chính phủ
- 1/7/2025: Ngày hội non sông và bước ngoặt lịch sử - Báo Điện tử Chính phủ
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.







