
Teeworld Editorial
24 tháng 9, 2026
ĐỌC THÊM

Tư liệu văn hóa
Trống đồng, chim Lạc, rồng, nghê, hoa sen, cây tre, áo dài, nón lá: bản đồ nhanh các biểu tượng văn hóa Việt, mỗi mục một đoạn có nguồn, nói rõ danh xưng nào đã được công nhận và danh xưng nào chưa.

Tư liệu văn hóa
Nghê là linh vật không sừng, móng vuốt, dáng gần với chó, ngồi chầu ở đình, chùa, đền, lăng. Bài viết điểm các giả thuyết nguồn gốc, cách phân biệt nghê với lân, kỳ lân, sư tử đá và nơi còn gặp nghê.

Gốm Chu Đậu là dòng gốm cổ của vùng Nam Sách, xứ Hải Dương, nổi tiếng nhất với men trắng vẽ lam (gốm hoa lam) và men tam thái. Theo trang của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, làng gốm Chu Đậu ra đời vào thế kỷ 14 và phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ 15–16; một bài khác trên cùng trang cho biết dòng gốm này tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, sau chiến tranh thời Lê – Mạc. Suốt mấy trăm năm, cả tên gọi lẫn kỹ thuật gần như biến mất, cho đến khi một chiếc bình ở Istanbul và các cuộc khai quật từ năm 1986 đưa nó trở lại.
Gốm Chu Đậu khác gốm Bát Tràng trước hết ở số phận: Chu Đậu là một dòng gốm từng đứt đoạn khoảng bốn thế kỷ và chỉ được sản xuất lại từ đầu những năm 2000, còn Bát Tràng là làng gốm ven sông Hồng đã mang tên Bát Tràng từ đầu thế kỷ 15 và vẫn là làng gốm nổi tiếng hôm nay. Bài dưới đây đi qua niên đại, chiếc bình Topkapi, tàu đắm Cù Lao Chàm, cách nhận diện, rồi đặt hai dòng gốm cạnh nhau chỉ theo những gì nguồn ghi nhận.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi làng gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương; đó là địa danh tại thời điểm bài đăng. Theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15, các xã Minh Tân (huyện Nam Sách), An Sơn và Thái Tân được sắp xếp thành xã Thái Tân mới của thành phố Hải Phòng, hoạt động từ ngày 1/7/2025. Thanh Niên giải thích Chu Đậu theo tiếng Hán nghĩa là bến thuyền đỗ, và làng nằm bên tả ngạn sông Thái Bình.
Về niên đại, các nguồn không trùng nhau hoàn toàn. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nói thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 17; Thanh Niên viết thế kỷ 14 đến 17; còn Hà Nội Mới, trong một bài năm 2020 chủ yếu viết về việc phục hồi nghề gốm, ghi gần năm thế kỷ, từ thế kỷ 12 đến 17; mốc thế kỷ 12 không có trên hai trang của bảo tàng. Điểm các nguồn đều gặp nhau là giai đoạn thịnh nhất vào thế kỷ 15–16, thời Lê sơ và Mạc: cả hai trang bảo tàng cùng ghi Chu Đậu rực rỡ nhất trong hai thế kỷ này, và khoảng đó nằm trọn trong khung niên đại của hai tờ báo.
Câu chuyện tìm lại Chu Đậu bắt đầu từ một chiếc bình hoa lam ở Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Theo bài của TS Trần Đức Anh Sơn trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, bình có dòng chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút”, và Bảo tàng Topkapi Saray từng ghi chú nó là “Đồ sứ Trung Quốc, thời Minh”. Năm Thái Hòa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông, được bảo tàng quy ra năm 1450.
Cũng theo Trần Đức Anh Sơn, năm 1980 nhà khảo cổ học Nhật Bản Makato Anabuki chụp ảnh chiếc bình gửi ông Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hải Dương, để xác minh lai lịch. Địa danh Nam Sách châu trên bình đã hướng các nhà nghiên cứu về vùng Nam Sách.
Đây là chỗ còn tranh luận. Ông Tăng Bá Hoành cho rằng bà Bùi Thị Hý là một nghệ nhân có thật; bài của Trần Đức Anh Sơn ghi bà sinh năm 1420, mất năm 1499, là vợ ông Đặng Sỹ, chủ một lò gốm lớn ở Chu Đậu. Loạt bài của Tuổi Trẻ năm 2016 thuật lại hai luồng ý kiến: phía ông Hoành dựa vào gia phả và hiện vật ở thôn Quang Tiền; phía TS Nguyễn Đình Chiến, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, cho rằng các hiện vật có chữ viết ấy có niên đại rất muộn và đọc bốn chữ cuối là “họ Bùi vẽ chơi”. Bài này không chọn phe; điều chắc chắn là chiếc bình do một người thợ họ Bùi ở châu Nam Sách ký.
Theo Hà Nội Mới, nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành cho rằng chiến tranh Lê – Mạc đã phá hủy các lò gốm ở Nam Sách, cộng với việc nhà Minh mở lại giao thương khiến gốm Chu Đậu mất chỗ đứng. Bài trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2008) mô tả dân làng về sau chỉ còn làm ruộng, dệt chiếu, và trong làng có địa danh “Đống Lò” mà không ai biết là lò gì.
Về phát hiện, cùng bài này ghi năm 1983 người ta đào được di tích lò gốm dưới vườn nhà một nông dân ở Chu Đậu, và các đợt khai quật diễn ra vào những năm 1986, 1987, 1989, 1991, 1992, 1993. Thanh Niên (2004) viết tháng 4/1986 Sở Văn hóa – Thông tin Hải Dương tiến hành khai quật, và qua tám lần khai quật trên diện tích 70 nghìn m2 tại hai xã Thái Tân, Minh Tân, các nhà khảo cổ tìm thấy hơn 100 đáy lò. Cũng theo Thanh Niên, tháng 10/2001 Xí nghiệp gốm Chu Đậu ra đời và tháng 5/2003 xuất khẩu lô hàng đầu tiên.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tàu cổ Cù Lao Chàm được khai quật năm 1999–2000, với hơn 240 nghìn hiện vật, chưa kể hàng vạn mảnh vỡ và hàng nghìn hiện vật bị trục vớt trước khi khai quật. Phần lớn hàng hóa là gốm sứ sản xuất ở Hải Dương và Thăng Long. Niên đại con tàu vẫn được thảo luận: các ý kiến ở Việt Nam cho là khoảng giữa đến cuối thế kỷ 15, còn nhà Butterfields xếp vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16.
Trần Đức Anh Sơn viết nhiều bảo tàng lớn như British Museum, Seattle Art Museum, Asian Art Museum of San Francisco đã mua gốm Chu Đậu trong phiên đấu giá của Butterfields tại San Francisco và Los Angeles vào tháng 10/2000. Sự kiện này đưa dòng gốm “bước ra ánh sáng”, theo cách ông mô tả.
Trong số hiện vật từ tàu Cù Lao Chàm có chiếc bình gốm hoa lam vẽ thiên nga, cao 56,5 cm, vẽ bốn con thiên nga theo chủ đề phi minh túc thực. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết bình được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 1426/QĐ-TTg ngày 1/10/2012, đợt 1. Trong danh sách bảo vật quốc gia do Cổng Xây dựng chính sách của Chính phủ tổng hợp, hiện vật mang tên “Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga”, thời Lê sơ, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia; tên chính thức không ghi chữ “Chu Đậu”.
Lý do là nơi sản xuất vẫn còn hai ý kiến. Theo trang bảo tàng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bình ra từ khu lò Chu Đậu, trong khi TS Bùi Minh Trí (Trung tâm nghiên cứu kinh thành) cho rằng bình được làm ở khu lò của kinh thành Thăng Long. Vì vậy, gọi đây là “bảo vật quốc gia của gốm Chu Đậu” là nói quá nguồn.
Bài viết năm 2008 trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia mô tả một số dấu hiệu. Đây là mô tả tham khảo cho người xem bảo tàng, không phải cách thẩm định cổ vật:
Hai họa tiết cuối có bài riêng trong thư viện: con nghê và cá chép vượt vũ môn.
So sánh dưới đây chỉ dùng những điểm có nguồn, không xếp hạng dòng nào hơn dòng nào.
| Chu Đậu | Bát Tràng | |
|---|---|---|
| Vị trí | Nam Sách, xứ Hải Dương (nay xã Thái Tân, Hải Phòng) | Ven sông Hồng, phía đông kinh thành Thăng Long |
| Tên xưa | Chu Đậu, “bến thuyền đỗ” theo Thanh Niên | Bạch Thổ, cuối thời Trần gọi phường Bát Đàn, đầu thời Lê gọi xã Bát Tràng |
| Thời thịnh | Thế kỷ 15–16 | Thế kỷ 15 (triều Lê) và 16 (triều Mạc) |
| Nguồn gốc thợ | Chưa rõ; gia phả họ Vương cho thấy có người từ Nam Sách di cư về Bát Tràng | Được cho là thợ gốm từ vùng Ninh Bình di cư ra |
| Hôm nay | Tàn lụi đầu thế kỷ 17; sản xuất lại từ 2001 | Vẫn là làng gốm nổi tiếng |
| Dấu hiệu quen thuộc | Men trắng chàm, men tam thái, đáy son nâu | Nguồn đã dẫn không mô tả chi tiết men |
Theo Hà Nội Mới, Bát Tràng xưa là làng Bạch Thổ vì đất có tới 72 gò đất trắng; dòng họ Nguyễn từ Ninh Tràng (Ninh Bình) được cho là những người đầu tiên đến lập nghiệp. Nhân Dân thì kể những nghệ nhân làng gốm Bồ Bát (Ninh Bình) theo nhà Lý dời đô mà về ven sông Hồng, lập nên làng gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng ngày nay. Hai dòng gốm cũng có mối nối: bài năm 2008 trên trang Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn sách Gốm Chu Đậu của Tăng Bá Hoành, trích gia phả họ Vương cho biết một chi họ làm gốm ở phủ Nam Sách đã di cư về xã Bát Tràng. Thanh Niên thì viết, khi vùng Nam Sách bị tàn phá, các nghệ nhân phiêu bạt đi nơi khác lập làng gốm mới. Nói gọn: hai dòng gốm có quan hệ về người và nghề, nhưng một bên là di sản khảo cổ được đánh thức, một bên là làng nghề vẫn giữ lửa lò đến hôm nay.
Trần Đức Anh Sơn kể trước khi tàu Cù Lao Chàm được khai quật, nhiều bảo tàng Nhật Bản như Machida, Mỹ thuật Fukuoka và Gốm sứ Kyushu đã sở hữu những sưu tập gốm Chu Đậu lớn. Ở phần 2 của bài, ông dẫn nhà nghiên cứu Philippe Truong cho rằng hai chiếc bát trà chân cao Chu Đậu ở Bảo tàng Nghệ thuật Tokugawa (Nagoya) được đặt làm riêng cho tướng quân Tokugawa Ieyasu và gia tộc, và đã được chính phủ Nhật Bản đưa vào danh mục Tài sản văn hóa quan trọng. Theo ông, kiểu dáng các bát trà này còn ảnh hưởng tới đồ gốm Nhật thế kỷ 17.
Gốm hoa lam là một ngôn ngữ thị giác rất gần với thiết kế đương đại: một màu lam trên nền trắng, nét vẽ phóng tay, bố cục chia băng, họa tiết lấy từ đời sống thường ngày như con cá, cành hoa, con chim. Khi đưa vào đồ họa, người ta thường mượn nhịp băng hoa văn và tinh thần một màu hơn là chép nguyên một chiếc bình. Các thiết kế lấy cảm hứng từ chất liệu văn hóa Việt được lưu trong Teeworld Archive. Các bộ sưu tập áo hiện có của Teeworld được tập hợp ở trang bộ sưu tập.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, làng gốm Chu Đậu ra đời vào thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15–16 và tàn lụi đầu thế kỷ 17. Một số báo ghi mốc khởi đầu sớm hơn, nên niên đại chính xác vẫn còn khác nhau giữa các nguồn.
Bình mang dòng chữ Hán ghi năm Thái Hòa thứ tám (1450) và tên châu Nam Sách, là manh mối để các nhà nghiên cứu tìm về Chu Đậu. Bảo tàng Topkapi Saray từng ghi chú nó là đồ sứ Trung Quốc thời Minh.
Chu Đậu là dòng gốm cổ vùng Nam Sách, từng thất truyền khoảng bốn thế kỷ, nổi bật với men trắng chàm và tam thái. Bát Tràng là làng gốm ven sông Hồng, mang tên Bát Tràng từ đầu thế kỷ 15 và vẫn nổi tiếng đến nay. Gia phả họ Vương cho thấy từng có người làm gốm từ Nam Sách di cư về Bát Tràng.
Bình gốm hoa lam vẽ thiên nga từ tàu Cù Lao Chàm là bảo vật quốc gia từ năm 2012. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bình thuộc dòng Chu Đậu, nhưng cũng có ý kiến cho rằng bình làm ở Thăng Long, và tên chính thức trong danh sách không ghi “Chu Đậu”.
Biên tập: Teeworld Editorial. Minh họa: Teeworld Studio.
Tư liệu văn hóa
Mỗi triều đại để lại một kiểu rồng riêng: rồng Lý thân trơn 3 móng, rồng Trần có sừng và vảy, rồng Lê 5 móng uy nghi, rồng Nguyễn gắn với quy chế trang phục. Bài viết đọc từng thời qua hiện vật có niên đại.