TƯ LIỆU VĂN HÓA
Nhân vật, triều đại và di tích được kể lại bằng nguồn khảo cổ, sử liệu và tài liệu bảo tàng.
Văn Miếu dựng năm 1070 dưới thời Lý Thánh Tông, Quốc Tử Giám lập năm 1076. Bài này đi qua năm khu không gian, 82 bia tiến sĩ, ý nghĩa rùa đội bia và ghi đúng các danh hiệu của bộ bia.
18 đời vua, 2.622 năm, 15 bộ: sử cũ kể về Hùng Vương bằng những con số tròn. Bài này tách truyền thuyết, ghi chép sử và bằng chứng khảo cổ từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn, rồi đến Giỗ Tổ và danh hiệu UNESCO.
Bài thơ bốn câu quen thuộc từ sách giáo khoa không có văn bản cổ nào ghi Lý Thường Kiệt là tác giả. Bài này đặt các dị bản cạnh nhau, so hai nguồn sớm nhất và trình bày hai giả thuyết về hoàn cảnh ra đời: năm 981 hay 1077.
Nguyễn Huệ khởi nghĩa cùng anh em ở ấp Tây Sơn năm 1771, lên ngôi hoàng đế Quang Trung cuối năm 1788 và đánh bại quân Thanh chỉ trong năm ngày Tết Kỷ Dậu. Bài này kể theo sử liệu và nói rõ chỗ các nguồn còn lệch nhau.
Sông Bạch Đằng ghi dấu ba trận thủy chiến: Ngô Quyền năm 938, Lê Hoàn năm 981 và quân Trần năm 1288. Bài này đặt ba trận cạnh nhau, chỉ ra chỗ các nguồn còn lệch và đọc các bãi cọc mà khảo cổ học đã tìm thấy.
Trần Quốc Tuấn là danh tướng thống lĩnh quân Trần chống Nguyên Mông, tác giả Hịch tướng sĩ, và sau khi mất trở thành Đức Thánh Trần. Bài này tách ba lớp: sử liệu, văn bản gắn với tên ông, và tục thờ ở Kiếp Bạc.
Triệu Thị Trinh mất năm 23 tuổi sau cuộc khởi nghĩa năm 248 chống nhà Ngô. Sử cũ gọi bà là Triệu Ẩu, người đời sau nhớ bà cưỡi voi, giáp vàng, với câu nói về gió và sóng. Đâu là sử, đâu là truyền thuyết?
Năm 40, hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị dựng cờ ở cửa sông Hát. Hậu Hán thư chép hai bà bị chém, Toàn thư chỉ ghi thua và mất, còn chi tiết gieo mình xuống sông đến từ sách sử đời sau. Đọc khởi nghĩa qua từng tầng nguồn và ba ngôi đền thờ chính.
Ba vòng thành đất, kho mũi tên đồng Cầu Vực, trống đồng có chữ và một bi kịch tình yêu. Đọc Cổ Loa theo hai lớp: điều khảo cổ xác nhận và điều truyền thuyết kể lại.